Nhân cách và sự hình thành, phát triển nhân cách

Nhân cách là gì?

Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm thuộc tính tâm lý của cá nhân biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người.

Các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành, phát triển nhân cách

Yếu tố bẩm sinh, di truyền (yếu tố tự nhiên)

nhan cach con nguoi

Có cơ sở vững vàng khẳng định rằng nhiều đặc điểm nhân cách được di truyền trong đó có thể kể đến:

  • Những khía cạnh về tâm thần, thần kinh và hướng ngoại của Eysenck (riêng về sự hướng ngoại bắt nguồn từ công trình của Jung)
  • Năm yếu tố thần kinh, hướng ngoại, sự cởi mở trước cái mới, tính dễ thích nghi và sự tận tâm của McCrae và Costa
  • Ba tính cách gồm tính đa cảm, tính năng động và tính hoà đồng

Hơn nữa nét tiêu biểu về sự tìm kiếm cảm giác của Zuckerman trước tiên bị ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền. Như vậy cách tiếp cận nét tiêu biểu tập trung vào sự ảnh hưởng của tính di truyền vẫn rất quan trọng ngày nay và có thể trở thành phạm vi phát triển nhanh nhất trong nghiên cứu nhân cách. Cái còn lại cần được xác định chính xác là có bao nhiêu yếu tố di truyền, đặc điểm hay tính cách. 16 theo Cattell, 3 theo Eysenck, 5 theo McCrae và Costa, 3 theo Plomin và Buss hay chưa được xác định như một số nhà lý luận khác? Nghiên cứu trong tương lai về di truyền học hành vi có thể cung cấp thêm nhiều khía cạnh nữa về nhân cách được hình thành bởi các yếu tố di truyền.

Không quan trọng có bao nhiêu đặc điểm, cũng không quan trọng khi đề xuất mạnh mẽ nhất về cách tiếp cận di truyền học lập luận rằng nhân cách có thể được giải thích đầy đủ và trọn vẹn bởi tính di truyền. Cái chúng ta thừa hưởng là những cái có, không phải số phận, xu hướng hay điều chắc chắn. Liệu khuynh hướng di truyền từng được nhận thức rõ phụ thuộc vào những điều kiện môi trường sống và xã hội đặc biệt là của thời kỳ thơ ấu.

Yếu tố gia đình

Chúng ta cung đã thấy nhiều ví dụ về việc cách cư xử của cha mẹ có thể xác định những khía cạnh đặc thù về nhân cách như thế nào chẳng hạn như nhu cầu thành đạt, sự hiệu quả (tính hữu dụng), nơi kiểm soát, và tình trạng không tự lo liệu được hay sự lạc quan. Cách cư xử của cha mẹ có thể ảnh hưởng chủ yếu đến những đặc tính thừa hưởng như việc tìm kiếm cảm giác chẳng hạn. Bạn có thể dễ dàng tưởng tượng làm thế nào những cha mẹ không lo lắng hoặc hay phạt có thể kiềm chế sự xuất hiện cảu những đặc tính di truyền như sự hướng ngoại, tính xã hội, tính dễ mến hay sự cởi với những điều mới mẻ.Smiling Family Posing in Field

Sự xem xét lại nghiên cứu về quan hệ giữa những kinh nghiệm thời thơ ấu với bệnh học tâm lý của tuổi trưởng thành chỉ rõ rằng thời thơ ấu của những người lớn trầm cảm và cáu kỉnh có liên quan đến việc nuôi dưỡng con cái không thích hợp. Các bậc cha mẹ của họ được cho là xa lánh và ngược đãi hơn và ít chăm sóc và tình cảm hơn so với cha mẹ của những người lớn có ít vấn đề hơn (Brewin, Andrews, và Gotlib, 1993). Một nghiên cứu về hơn 100 người mẹ phân loại họ dựa trên những yếu tố về tính đa cảm và tính dễ chịu. Những người mẹ đặc trưng bởi những xúc cảm tiêu cực và không dễ chịu thì con của họ có điểm cao hơn về tính kháng cự, sự cáu giận, không vâng lời và những vấn đề về hành vi khác so với con của những người mẹ không có những phẩm chất xúc cảm tiêu cực (Kochanska, Clark, và Goldman, 1997).

Yếu tố phát triển

Vấn đề là nhân cách của chúng ta tiếp tục thay đổi và phát triển bao lâu? Liệu cái tôi của bạn vào tuổi 20 cho biết bạn sẽ như thế nào vào tuổi 40? Như với tất cả những câu hỏi liên quan đến nhân cách, câu hỏi này đã trở thành một câu hỏi đặc biệt phức tạp. Có lẽ đó thậm chí không phải là một câu hỏi đáng đặt ra.

Có thể không làm bạn ngạc nhiên khi biết rằng bằng chứng thực nghiệm chứng minh nhiều quan điểm khác nhau (xem Matthews và Deary, 1998). Vậy nhân cách có thay đổi không? Có. Nhân cách có bền vững không? Có thể có. Nhưng nếu chúng ta phải trau chuốt câu hỏi và hỏi liệu một số đặc điểm nhân cách ổn định trong một khoảng thời gian trong khi những đặc điểm khác thay đổi, và rồi chúng ta có thể sẽ trả lời được với từ có tuyệt đối.

Cái gì gây ra sự thay đổi nhân cách tuổi trưởng thành? Những nhà lý luận ủng hộ ảnh hưởng quan trọng hơn của các yếu tố di truyền đưa ra giả thuyết rằng mọi thay đổi nhân cách đều độc lập với những yếu tố môi trường. Những nhà lý luận khác tin rằng câu trả lời được bắt nguồn từ những ảnh hưởng môi trường và xã hội và trong những thích nghi chúng ta có trước những ảnh hưởng ấy. Những thay đổi trong hoàn cảnh kinh tế, việc rời bỏ trường học, xây dựng gia đình và đảm nhận vai trò cha mẹ, ly di, mất việc hoặc việc thăng chức, khủng hoảng tuổi trung niên, cha mẹ cao tuổi tất cả mang lại những vấn đề mà người lớn phải điều chỉnh. Hai nghiên cứu theo chiều dọc về phụ nữ xem xét yếu tố xã hội của phong trào giải phóng phụ nữ vào những năm 70 và tác động của nó từ những năm trung học cho tới tuổi trung niên. Nhiều điểm tăng quan trọng đã được nhận thấy trong khoảng thời gian này liên quan đến những đặc tính nhân cách về tính ưu thế, tự công nhận, sự thấu cảm, sự thành đạt và sự tự lập. Trong khi đó việc tôn trọng nguyên tắc hay chuẩn mực được nhận thấy giảm (Agronick và Duncan, 1998; Robert và Helson, 1997).

Yếu tố môi trường

Tất cả các nhà lý luận về nhân cách thừa nhận tầm quan trọng của môi trường xã hội. Alder nói về tác động của trật tự sinh, lập luận rằng nhân cách bị ảnh hưởng bởi vị trí của chúng ta trong gia định trong quan hệ với anh chị em ruột. Chúng ta được thấy nhiều hoàn cảnh gia đình và xã hội khác nhau tuỳ theo độ chênh lệch tuổi giữa các anh chị em ruột hoặc việc có anh chị em ruột hay không. Theo quan điểm của Adler, những môi trường gia đình khác nhau này có thể tạo ra nhiều nhân cách khác nhau.

Yếu tố giáo dục

Nhan thuc ca nhan

Chứng cứ rất rõ ràng về việc học tập đóng vai trò chủ yếu ảnh hưởng đến hầu như mọi khía cạnh của hành vi. Tất cả những ảnh hưởng môi trường và xã hội hình thành nhân cách tác động tới hành vi thông qua việc học tập. Ngay cả những khía cạnh nhân cách được thừa hưởng cũng có thể bị thay đổi, phá vỡ, ngăn chặn hoặc để cho phát triển bởi quá trình học tập. Skinner (trên cơ sở công trình của Watson và Pavlov trước đó) đã cho chúng ta biết giá trị của sự củng cố tích cực, sự tiếp cận liên tục, hành vi siêu việt và nhiều biến số học tập khác như là sự tích luỹ những câu trả lời được học.

Yếu tố ý thức

Hầu hết tất cả các lý thuyết về nhân cách đề cập rõ ràng hoặc hàm ý đến các quá trình ý thức (nhận thức). Ngay cả Freud và Jung, những người tập trung vào vô thức, cũng đã viết về một cảm giác ego hay nhận thức lĩnh hội từ ý nghĩ, cảm giác và ký ức cho phép chúng ta tương tác với thế giới thực. Thông qua ego chúng ta có thể lĩnh hội những kích thích và rồi sau đó hồi tưởng lại hình ảnh về chúng. Jung viết về tính chức năng lý tính, việc có những nhận định và đánh giá có ý thức từ những kinh nghiệm của chúng ta. Alder mô tả con người như là những sinh vật có lý tính và ý thức có khả năng lập kế hoạch và định hướng cuộc sống. Chúng ta xác định rõ hy vọng, kế hoạch, giấc mơ và sự hài lòng sau này. Như những nhà lý luận đã sử dụng thuật ngữ, chúng ta liệu trước một cách có ý thức những sự kiện trong tương lai.

Yếu tố vô thứcVo thuc va Freud

Tính vô thức lý tính thường được tham chiếu đến như là không ý thức, để phân biệt với tính vô thức của Freud, kho chứa tối tăm nhữngmong muốn và ham muốn bị đè nén như Freud gọi. Một phương pháp nghiên cứu tính không ý thức bao gồm cả sự hoạt hoá tiềm thức trong đó những kích thích được bày tỏ cho những khách thể ở dưới mức độ nhận thức của họ và hành vi cũng có thể được kích hoạt bởi những kích thích này. Kết luận hiển nhiên được rút ra từ nghiên cứu này là con người có thể bị ảnh hưởng bởi những kích thích mà họ không nhìn hoặc nghe thấy. Đã có những nghiên cứu về việc làm thế nào những giới thiệu tiềm thức về những kích thích ảnh hưởng tới những phản ứng nhận thức cũng như xúc cảm (Silverman và Weinberger, 1985). Những kích thích tiềm thức có giá trị chữa bệnh mặc dù những khách thể không có ý thức nhận thức về những thông điệp hiện tại. Như vậy tính vô thức có thể được hợp từ cả lý tính và cảm xúc.

Mặc dầu tính vô thức là chủ đề nghiên cứu liên tục trong tâm lý học ngày nay, nhưng nhiều nhà lý luận nhân cách theo Freud lờ đi điều này. Chúng ta có thể đề xuất rằng tính vô thức xúc cảm như Freud hình dung – ý tưởng bắt đầu báo hiệu sự khởi đầu chính thức của nghiên cứu nhân cách – vẫn còn là yếu tố ít được hiểu nhất và vẫn còn thần bí và khó có thể hiểu được cũng như thời đại của Freud.

Tài liệu tham khảo : “Các lý thuyết nhân cách” - Duane P. Schultz,  Đại học tổng hợp Nam Florida, Nhóm dịch thuật Khoa Tâm lý học, trường ĐH KHXH&NV

About these ads