Đặc trưng của các dạng sóng não

Beta (14 – 30 Hz): thể hiện ở

  • Báo động
  • Làm việc, học tập
  • Suy nghĩ bận rộn

Alpha (9 – 13 Hz): thể hiện ở

  • Thư giãn
  • Mường tượng
  • Hướng nội
  • Mơ mộng, mơ màng

Thea (4 – 8 Hz): thể hiện ở

  • Trạng thái thiền sâu
  • Giữa ngủ và thức
  • Sáng tạo
  • Trạng thái của shaman (pháp sư)
  • Cầu nối với tiềm thức (/ vô thức, / dưới ý thức)

Delta (0 – 3 Hz)

  • Trạng thái vô thức rất sâu

 

Stress – sự căng thẳng

1.     Khái niệm chung

Những năm 1950, lần đầu tiên Hans Selye nói về khái niệm stress từ góc độ ý tế. Ông nói rằng khi cơ thể trải qua sự căng thẳng, nó đi qua 3 giai đoạn khác nhau: nhận ra căng thẳng, đôi khi có thể cùng nghĩa với việc nhận ra tác nhân gây căng thẳng (phản ứng báo động), chống đỡ căng thẳng khi cơ thể cố gắng thích nghi với các yêu cầu đặt ra, và cuối cùng là kiệt sức khi không có khả năng thích ứng. stress

Nếu cơ thể trong giai đoạn kiệt sức quá lâu, nó bắt đầu không thể chịu đựng được cái mà Selye gọi là “bệnh của thích ứng”. Nói cách khác, cơ thể bị ốm. Một chút lưu ý ở đây là, mặc dù Selye đã viết về căng thẳng về mặt cơ thể, nhưng trên thực tế cơ thể không phân biệt được giữa căng thẳng về thể chất và căng thẳng về cảm xúc. Tiến trình diễn ra như nhau.

Một vài phản ứng với stress đã được Selye liệt kê như sau:

  • Các biểu hiện thể chất của stress không có trong suốt giai đoạn kháng xuất hiện lại vào giai đoạn kiệt sức, điều này cho thấy con người có khả năng hữu hạn trong việc thích nghi với hoàn cảnh.
  • Các yếu tố giúp xuất hiện các dấu hiệu thích nghi của mỗi người khác nhau.
  • Một người đối diện với cùng tác nhân gây căng thẳng ở những thời điểm khác nhau thì có những kết quả về mặt định tính khác nhau phụ thuộc vào hoàn cảnh mà tác nhân đó xuất hiện.

Richard Lazarus, khoảng những năm 1966 đã xây dựng một lý thuyết về cách con người đối phó với tình huống căng thẳng. Giống như Selye, ông cho rằng mỗi người đối diện với tình huống căng thẳng rất khác nhau và phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức tình huống của người đó. Ông cho rằng sự căng thẳng xuất hiện như là sự mất cân bằng về nhu cầu và nguồn lực đáp ứng. Và ông chia 2 cách đối diện với căng thẳng dựa trên nhận thức tình huống khác nhau:

  • Một là tập trung vào đối diện với vấn đề – họ tập trung vào các cách thức để loại bỏ tác nhân gây căng thẳng, họ cố gắng rất nhiều phương pháp, hành động, làm việc với những người khác nhau, suy nghĩ về mặt kế hoạch đối với vấn đề để thấy họ đã bỏ qua điều gì và tiếp tục  làm gì để đạt mục tiêu. Nói cách khác, họ đang cố giải quyết vấn đề.stress gia vi
  • Hai là tập trung vào đối diện với cảm xúc – họ làm mọi cách để làm dịu bớt sự căng thẳng, họ nghỉ ngơi nhiều hơn, dành thời gian cho gia đình, cố gắng duy trì sự cân bằng giữa cuộc sống và công việc, họ không làm gì để giải quyết vấn đề. Trên thực tế, đôi khi họ làm mọi việc để tránh sự căng thẳng.

Không có cách nào tốt hơn hay xấu hơn cách nào, nhưng điều cơ bản cuối cùng là tập trung vào việc loại bỏ các yếu tố gây căng thẳng. Giải pháp đối diện với cảm xúc tốt cho ngắn hạn, nhưng không tốt cho lâu dài, nếu không kết hợp với tập trung vào các giải pháp đối diện với vấn đề, thì kết quả cuối cùng là làm cho cơ thể bị bệnh.

Đặc biệt, trước những stress quá mạnh, hoặc trường diễn, những phản ứng thích nghi bị rối loạn, cơ thể bị suy sụp, từ đó xuất hiện nhiều rối loạn bệnh lý.

Tuy nhiên, stress có mặt tích cực: phản ứng của cơ thể trước tác động của stress trong giai đoạn nhận diện, báo động và giai đoạn kháng cự đều là những phản ứng huy động sức đề kháng và khả năng thích nghi của cơ thể. Vì vậy, trong những giai đoạn này, sức đề kháng và khả năng thích nghi của cơ thể được tăng cao. Ngoài ra, chính ảnh hưởng của stress đã làm cho nhân cách có những phản ứng theo chiều hướng đáp ứng thích nghi tốt hơn, nghĩa là nhân cách phát triển ngày càng hoàn thiện hơn. Những trải nghiệm tích luỹ trong cuộc sống là một trong những yếu tố điều kiện hoá những phản ứng của chúng ta đối với stress.

2.   Hội chứng thích nghi chung

adrenaline

Phản ứng tức thời đối với các sự kiện gợi ra căng thẳng hay lo âu tạo ra mức độ đánh thức sinh lý cao. Tuy nhiên trong đời sống hiện đại, đe doạ nhận thức hiếm khi được phản ứng bằng hành động cụ thể. Ngoài ra, chúng thường liên tục và không đặc trưng, ví dụ sự lo âu thường xuyên rằng không đủ tiền để trang trải cuộc sống, thể hiện mối đe doạ nhận thức cấp tính, nhưng đang diễn ra không có hình dạng vật lý trực tiếp. Điều này dẫn tới hội chứng thích nghi chung:

  • giai đoạn thứ nhất, nhận diện, cảnh báo: bao gồm phản ứng đấu tranh. Ở động vật, thời kỳ này được thể hiện tạo ra sử nở to tuyến thượng thận, co rút tuyến hung và các hạch bạch huyết, đôi khi loét thành dạ dày.
  • Tuy nhiên, khi căng thẳng tiếp tục, cơ thể cố gắng trở lại chức năng hoạt động bình thường trong khi cùng lúc đối phó với lượng adrenaline đang tăng trong mạch máu và tác động do nó tạo ra. Đây là thời kỳ đề kháng.
  • Giai đoạn thứ 3 diễn ra khi cơ thể hoàn toàn mất hết năng lượng dự trữ, kết quả là sự kiệt sức. Trong giai đoạn sau cùng này, hội chứng thích nghi chung mang đặc điểm nhịp tim, huyết áp… trở lại mức bình thường, nhưng có thể nhận dạng bằng lượng adrenaline còn lại trong mạch máu rất cao, tạo ra phản ứng tức thời mạnh, đối khi quá độ đối với các nguồn căng thẳng bổ sung thậm chí chỉ ở mức ôn hoà. Selye chứng minh rằng, nếu động vật gặp hội chứng thích nghi chung, sẽ biểu hiện sự đề kháng trước kích thích tạo căng thẳng thấp hơn nhiều so với động vật không ở trong trạng thái này.stress va suc de khang

Tóm lại, hội chứng thích nghi chung là quá trình thích nghi sinh lý đối với căng thẳng dài hạn, kết quả làm sức đề kháng bệnh tật giảm cũng như những kết quả tiêu cực khác.

3.      Các biểu hiện cơ bản của stress

Nhiều nhà nghiên cứu đã khảo sát các yếu tố căng thẳng dài hạn có thể làm cho con người nhạy cảm với bệnh tật ra sao. Một trong những chứng cứ quan trọng nhất nổi bật từ các kết quả nghiên cứu này là phác hoạ hậu quả sinh lý của căng thẳng dài hạn rất khác với phản ứng của cơ thể trong tình huống khẩn cấp.

Hệ miễn dịch bao gồm nhiều sự phòng thủ mà cơ thể đang có để tự bảo vệ mình chống lại bệnh tật. Như là tuyến phòng thủ thứ nhất, bạch huyết cầu bảo vệ cơ thể và hệ bạch huyết, tìm kiếm những sinh vật lạ, chẳng hạn như vi khuẩn, nấm và virus, trong khi những tế bào tiêu diệt tự nhiên tuần tiễu khắp các mô cơ thể, tiêu diệt tế bào bị nhiễm virus hay biến thành tế bào ung thư. Trong phản ứng miễn dich, có tế bào đặc biệt còn gọi là tế bào lympho T do tuyến hung tạo ra. Những tế bào này bám vào bề mặt tế bào, khi có kẻ xâm nhập, tế bào lympho T phản ứng bằng cách trực tiếp tiêu diệt kẻ xâm nhập hay phát ra thông tin kêu gọi các bạch huyết cầu khác đến để tiêu diệt.

stress va tac haiVấn đề là sự căng thẳng làm gia tăng sự tiết chất glucocorticoid trong máu, qua một thời gian dài, các chất glucocorticoid này tự gắn bó với bạch huyết cầu và làm giảm hiệu quả của chúng. Hội chứng thích nghi chung lúc này thế hiện ra là sự đề kháng đối với bệnh tật thấp hơn , khuynh hướng cảm thấy mỏi mệt và suy nhược chung. Hậu quả, sinh lý dài hạn cũng được nhận biết, dưới dạng ngày càng cáu kỉnh và có vẻ mặt bi quan. Căng thẳng dài hạn làm giảm khả năng chịu đựng tinh thần và thể xác, và cảm giác của họ là cảm giác bất lực trong những tình huống công tác, làm cho căng thẳng của họ nhiều hơn, trầm trọng hơn (hội chứng đốt sạch).

Ngô Thị Thu Huyền

Nguồn tham khảo:

-                    Tâm lý học lao động – Đào Thị Oanh

-                    Nền tảng tâm lý học – Nicky Hayes

Chức năng của não

Não người thường được biết là nơi quyết định độ thông minh của con người. Ngày xưa người ta thường nhầm là trí thông minh phụ thuộc vào kích thước của não (nghĩa là não càng to càng thông minh và ngược lại). Nhưng khi mổ não của nhà thiên tài của mọi thời đại Albert Einstein, não của ông không quá to. Từ đó đã có nhiều nhà nghiên cứu đã thí nghiệm và đã kết luận: một não thông minh tùy thuộc vào khả năng giao tiếp giữa các tế bào thần kinh và màng chất béo bao bọc các dây thần kinh, màng chất béo quyết định độ nhanh của các tín hiệu lan truyền trong não.

Image