KẾT NỐI CƠ THỂ – TÂM TRÍ (CONNEXION CORPS-ESPRIT)

Trong các thế kỷ tới, phương Tây sẽ tạo ra yoga của riêng mình – C. Jung

 

  1. Giới thiệu chương trình Kết nối cơ thể – tâm trí (CCE)

Tiến trình học tập và thực hành “Kết nối cơ thể – tâm trí” – CCE được xây dựng theo phương pháp Sophrologie, do nhà tâm thần Alfonso Caycedo sáng lập (từ những năm 60) dựa trên sự kết hợp các kỹ thuật của phương đông và phương tây. Thuật ngữ Sophrologie được truyền cảm hứng từ từ gốc Hy lạp có nghĩa là khoa học nghiên cứu về sự hài hòa của nhận thức. Sophrologie là tổng hợp các kỹ thuật tác động tới cơ thể và tâm trí. Nó là tổng hợp các bài tập về hơi thở, sự thả lỏng cơ bắp và các hình ảnh tâm trí (hình dung, tưởng tượng, quán tưởng) (được điều hướng bằng giọng nói của người hướng dẫn). Tiến trình học tập và thực hành này nhằm mục đích tìm thấy (tìm ra, tìm lại) trạng thái lành mạnh và kích hoạt (phát triển) tiềm năng – nâng cao khả năng hiện thực hóa bản thân.

Sophrologie cho phép đạt tới những nhận thức về bản thân và củng cố một tâm thế lành mạnh khi đối diện với các sự kiện trong cuộc sống hàng ngày. Một cách ngắn gọn, “Kết nối cơ thể – tâm trí” là một khóa học tập trung vào phương pháp tâm – thể, sử dụng các kỹ thuật có tính trị liệu hoặc được xem như có tính triết lý về đời sống.

Các tên gọi khác có liên quan đến cùng chủ đề

 

  1. Các ứng dụng chính 

  • Quản lý/ kiểm soát cuộc sống hàng ngày: quản lý các căng thẳng, các lo âu hàng ngày. Nói cách khác, “Kết nối cơ thể – tâm trí” giúp quản lý các cảm xúc để tránh việc bị quá xâm chiếm bởi chúng. Đây cũng là phương pháp giúp làm chất lượng giấc ngủ tốt hơn, thông qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho một cơ thể khỏe mạnh hơn.
  • Chuẩn bị cho các sự kiện: quản lý sự cam kết, chuẩn bị tâm thế (thái độ), nhận thức về khả năng đối diện với sự kiện theo cách tốt nhất.
  • Đồng hành với các tiến trình chữa trị y tế: các kỹ thuật CCE không chữa trị, nhưng nó giúp củng cố sự đối phó với bệnh tật, giảm đau cơ thể, tìm lại chất lượng cuộc sống.
  • Đồng hành với các hành vi tâm bệnh lý: một số nỗi ám ảnh; ám sợ; một số hành vi lệ thuộc như uống rượu, thuốc lá;

 

  1. Mục tiêu của CEE

Tiến trình phát triển diễn ra theo các bước

  1. Bí mật tiến trình CCE

Những nhịp sóng não chính quan sát được ở con người

  • Sóng bêta (14 ~ 32 Hz) là trạng thái tỉnh thức, chăm chú, tập trung, hoặc lo lắng
  • Sóng alpha (8 ~ 13 Hz) là trạng thái gần ngủ / buồn ngủ, hoặc mới tỉnh dậy sau giấc mơ
  • Sóng thêta (4 ~ 8 Hz) là trạng thái ngủ.
  • Sóng delta (0,5 ~ 4 Hz) là trạng thái ngủ sâu (hoặc hôn mê, ngất).
  • Sóng gamma (khoảng 35 ~ 40 Hz, có thể lên tới 80Hz) khi não ở trong tiến trình ràng buộc về nhận thức.

CCE được thực hành ở trạng thái alpha, thông qua các kỹ thuật để cơ thể thả lỏng, thư giãn, vành đai tâm trí ý thức hoạt động ít kháng cự hơn, tưởng tượng được kích hoạt hơn, việc tiếp thu được thuận lợi hơn; và hướng tới mục tiêu phát triển nhận thức.

 

  1. Đối tượng của khóa học CCE:

Những ai có quan tâm/ liên quan:

  • Quản lý căng thẳng.
  • Nâng cao tự tôn để đối diện được các sự kiện trong đời sống.
  • Khuyến khích sự tự chủ cá nhân.
  • Chịu đựng các hành vi và cảm xúc thiếu thích nghi.
  • Cảm thấy chịu đựng một số mối quan hệ xã hội mà không tự giải quyết được.
  • Cách thức nâng đỡ / can thiệp đối với sự chịu đựng/ nỗi đau khổ thể chất và/ hay tinh thần.

 

  1. Tổ chức lớp học

  • Thời gian: 9h30 – 11h, sáng thứ 7 và sáng chủ nhật hàng tuần (hoặc 3h – 4h30 chiều thứ 7 và chiều chủ nhật hàng tuần)
  • Số lượng người học: 10 người/ lớp.
  • Số lượng buổi học: 10 buổi (5 tuần: học 2 buổi/tuần).
  • Người hướng dẫn: Nhà tâm lý, ThS. Ngô Thị Thu Huyền.
  • Nội dung:
    • Giới thiệu về Kết nối cơ thể – tâm trí (CCE) và một số khái niệm có liên quan: thư giãn, thôi miên, phân tâm học, tâm lý học, thiền, yoga, sinh lý học thần kinh.
    • Nhận diện stress, chịu đựng tâm trí (tâm bệnh lý), quản lý cảm xúc; mối quan hệ giữa thể chất – cảm xúc – ý thức; các phương tiện của CCE (theo dõi hơi thở, thả lỏng cơ bắp, ngôn ngữ dẫn dụ, kiến thức có liên quan); hiệu ứng của CCE (về mặt thể chất, về mặt cảm nhận, về mặt nhận thức); mục đích của CCE: nhận diện sự chi phối của những điều không được đón nhận; tăng cường năng lực tư duy thứ cấp – tiến trình diễn ra ở bình diện nhận thức.
    • Khí chất, nhân cách con người và các đối thoại nội tâm, các cơ chế phòng vệ của tâm trí.
    • Dẫn dụ, ám thị, vô thức và ý thức.
    • Phương pháp Jacobson và huấn luyện tự sinh Schultz.
    • Cách sử dụng ngôn ngữ và trạng thái Alpha để chuyển đổi các khuôn mẫu hành vi, quản lý cảm xúc.
    • Phương pháp quán tưởng (hình dung/ tưởng tượng) và sử dụng các hình ảnh tâm trí để huy động các nguồn lực nhằm tăng khả năng nhận thức và khuyến khích phát triển tiềm năng.
  • Học phí: 6.000.000 đồng / khóa (lưu ý với các bạn học viên cũ, nếu muốn tham gia thì học phí giảm 30%) + 450.000 tài liệu học tập.
  • Hình thức nộp tiền: Nộp tiền học vào tài khoản. Có 2 lựa chọn nộp tiền: nếu nộp tiền cả khóa học giảm 5% (5.700.000 đồng + 450.000 đồng); hoặc nộp 3 triệu (3.000.000 đồng + 450.000 đồng) cho lần 1, số tiền còn lại (3.000.000 đồng) sẽ nộp vào buổi học thứ 5 của khóa học.
  • Thông tin tài khoản:
    • Ngô Thị Thu Huyền, ngân hàng ACB chi nhánh Văn Thánh, số TK: 240239729.
    • Ngô Thị Thu Huyền, ngân hàng VCB chi nhánh Hội sở chính Hà Nội, số TK: 0451000297445.
  • Thời gian bắt đầu học: sẽ linh hoạt theo nhu cầu đăng ký (dự kiến gần nhất: 9h30 thứ 7, ngày 11/11/2017)
  • Địa chỉ học: số 130 đường D1, phường 25, Bình Thạnh, Tp. HCM.
  • Điện thoại liên hệ: gặp chị Huyền, 0936545579

KỶ LUẬT VÀ THỰC HÀNH

 

Nhà tâm lý Ngô Thị Thu Huyền

Advertisements
Đăng tải tại Ý thức và vô thức, Chức năng của bộ não, Nghệ thuật sống Kỹ năng sống Tư duy tích cực, Nghệ thuật tư duy và Cơ chế vận hành tâm trí, Phương pháp trị liệu, Sức khỏe tâm thần trong cuộc sống, Tôi và mối quan hệ với bên ngoài (công việc, xã hội), Tôi và mối quan hệ với bản thân mình

THÔNG BÁO CHIÊU SINH LỚP PHÂN TÂM HỌC

  • Thời gian học: từ 9h30 đến 11h – thứ 7, bắt đầu ngày 16/09/2017 (dự kiến)
  • Địa điểm: số 130, đường D1, phường 25, Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh – Đt: 0936545579
  • Học phí: 2.000.000đ/khóa/người
  • Thời lượng: 10 buổi – 1 buổi/tuần
  • Giảng viên: Ths Ngô Thị Thu Huyền

NỘI DUNG KHÓA HỌC

  • Giới thiệu về phân tâm học
  • Xung năng, đời sống của xung năng, giáo dục xung năng,
  • Bộ máy tâm trí – cỗ máy quản lý xung đột (Các cơ chế phòng vệ)
  • Bộ máy tâm trí và tổ chức của nó: Định khu tâm trí – định khu thứ nhất và thứ hai
    • Các biểu hiện của vô thức.
    • Một số khái niệm quan trọng trong phân tâm: libido, ham muốn, huyễn tưởng, sự lặp đi lặp lại, thiếu hụt, trống rỗng, ái kỷ, lệch lạc tính dục, năng lượng tự do, năng lượng liên kết, quá trình tiên phát và thứ phát.
  • Bộ máy tâm trí – cỗ máy ham muốn
    • Các giai đoạn phát triển tâm tính dục
    • Mối quan hệ tam giác: cha – mẹ – con, sự gắn bó mẹ con, phức cảm Ơdip
  • Phân tâm học và cơ chế vận hành tâm trí
    • Các cấu trúc tâm trí(triệu chứng, quan hệ đối tượng, lo hãi, cơ chế phòng vệ): cấu trúc loạn thần, cấu trúc nhiễu tâm, cấu trúc loạn dục, thể ranh giới.
    • Một số bệnh lý tâm thần
  • – Tiếp cận phân tâm trong trợ giúp tâm lý – chịu đựng tâm trí, liên tưởng tự do, cơ chế chuyển dịch và chống chuyển dịch.

* Lưu ý: 

  • Học viên tham gia khóa học đóng trước 50% tổng số tiền cả khóa (1 triệu đồng), hoặc nếu đóng trước cả khóa thì được giảm 10% tổng số tiền (còn 1,8 triệu đồng) – trước ngày thứ 6, ngày 15/9/2017.
  • Hình thức đóng tiền, nộp tiền vào tài khoản: Ngô Thị Thu Huyền, số tk: 0451000297445 (ngân hàng VCB)
  • Học viên chỉ được xem là đã đăng ký khóa học sau khi hoàn tất thủ tục đóng học phí.
  • 20 học viên đóng tiền đầu tiên sẽ được xác nhận đăng ký. Những người đóng tiền sau có thể chọn lựa hoặc chuyển giờ học, hoặc lấy tiền lại. Hoặc gọi điện để xác nhận trước lúc chuyển tiền.

** Nội quy trong lớp học:

  • Số lượng người tham gia không quá đông (<20 người) để mọi người dễ dàng tham gia vào các thảo luận, có cơ hội để đặt câu hỏi hoặc nói lên quan điểm của bản thân.
  • Các thành viên trong lớp học tôn trọng bản thân và tôn trọng những người khác.
  • Nếu có những thông tin cá nhân được chia sẻ, cả nhóm tôn trọng bằng cách không bàn tán, phổ biến, bình luận ở góc độ phán xét sự riêng tư đó.

Ngô Thị Thu Huyền

Tham khảo thêm: http://www.facebook.com/tamlydoisong/

Đăng tải tại Ý thức và vô thức, Nghệ thuật sống Kỹ năng sống Tư duy tích cực, Nghệ thuật tư duy và Cơ chế vận hành tâm trí, Sức khỏe tâm thần trong cuộc sống, Tâm lý và đời sống, Tôi và mối quan hệ với bên ngoài (công việc, xã hội), Tôi và mối quan hệ với bản thân mình

Ràng buộc kép

  1. Ví dụ minh họa

Người mẹ tặng cho con trai 40 tuổi 2 cái cà vạt, một màu đỏ và một màu xanh. Thứ 7 tiếp theo, đứa con tới, mang cà vạt màu xanh để làm hài lòng người mẹ. Người mẹ nói to lên ngay ở cửa, với chút trách móc trong ánh nhìn: À, mẹ biết ngay là con không thích cái màu đỏ.

Logic của vấn đề: nếu anh ta mang cái màu xanh, thì lẽ ra anh ta phải mang cái màu đỏ. Nếu anh ta mang cái màu đỏ, thì lẽ ra anh ta phải mang cái màu xanh. Đứa con trai ở trong cái bẫy, nó mang cái gì nó cũng thua – không làm hài lòng người mẹ.

(Chiến thuật này rất tốt nếu người ta muốn để ai đó trong sự bối rối và áp đặt quyền lực lên họ. Chỉ việc tạo ra xung đột như vậy ở họ.)

Ràng buộc kép được phát hiện bởi Gregory Bateson và đồng sự. Trong quá trình nghiên cứu trên người TTPL, họ phát hiện ra bệnh này là kết quả của một hệ thống giao tiếp trái chiều ở trong gia đình.

Bateson đưa ra 1 ví dụ, đó là một chàng trai trẻ, anh phải ở bệnh viện điều trị về căn bệnh TTPL. Mẹ đến thăm anh. Anh hài lòng khi gặp mẹ và ôm lấy mẹ, và đột nhiên mẹ trở nên cứng nhắc. Anh rút tay lại và mẹ anh hỏi: “con không yêu mẹ nữa à?” Và chàng trai đỏ mặt, và mẹ thêm vào “con yêu, con không phải bối rối thế, và không phải sợ sệt về cảm xúc của con”. Bệnh nhân chỉ  ở lại vài phút với mẹ, và khi bà đi, bệnh nhân lập tức tấn công người y tá và chịu trói lại sau đó.

Cuộc gặp ngắn ngủi thể hiện hiện tượng ràng buộc kép. Những tình huống tương tự như vậy cũng được quan sát thấy trong các mối quan hệ con người, con người, trong gia đình, trong môi trường làm việc. Nó rất hiệu quả và nó vô hình đối với những người đang diễn nó.

Trong gia đình trẻ TTPL, nó thường nhận cư xử rất kỳ quặc và đặt nó trong tình huống không thể có hành vi gì đúng và phù hợp với các ràng buộc mà nó dưới quyền. Với sự lặp đi lặp lại, các giao tiếp mang tính vi phạm nhân phẩm khiến chúng học chẳng học được khởi xướng, sáng kiến nào của riêng mình và nhìn thế giới này cũng dưới dạng ràng buộc kép.

Nhóm của Bateson quan sát thấy, những gia đình không có ràng buộc kép, con cái của họ sẽ sáng tạo hơn.

 

  1. Ràng buộc kép, giữa 2 lối rẽ và lựa chọn

(Khi người ta chỉ có 1 lựa chọn – người ta ở trong tình huống cho trước, bị máy móc thực hiện

Khi người ta có 2 lựa chọn, người ta ở trước xung đột: bánh ngọt hay bánh mì

Sự tự do thực sự khi người ta có ít nhất 3 lựa chọn

Khi tự do lựa chọn, mỗi lựa chọn đều là thắng; còn trong xung đột, ngay cả khi lựa chọn là thua, thì vẫn có giải pháp thắng; trong xung đột, người ta thắng ở bình diện này, thua ở bình diện khác.)

Trong ràng buộc kép, dù chọn là gì thì nạn nhân vẫn thua. Không có khả năng chọn lấy 1 giải pháp được hài lòng. Ví dụ chàng trai trên, lựa chọn là giữa chấp nhận thông điệp không lời của mẹ khiến anh hiểu “mẹ không yêu con” hay để người mẹ trong tình huống bất tiện khi từ chối sự dịu dàng với anh.

Anh có 1 lựa chọn không tốt giữa 2 ý nghĩa “mẹ không yêu mình” hay “mình không yêu mẹ”.

Hơn nữa, trong các thông điệp trái chiều và tiêu cực, ràng buộc kép rất thường đi kèm một thông điệp tiêu khách nhằm vào bản sắc cá tính của nạn nhân. Đó là, nó dẫn tới việc nạn nhân phụ thuộc đó luôn trong cái sai, rằng họ là nguyên nhân của vấn đề.

Thông điệp này được hiểu như là: mày là tồi, mày chả có ý nghĩa gì, mối quan hệ này không tốt là do mày, mày không biết quan tâm tới mẹ…

  1. 6 thành phần của một thông điệp kép

  • Mối quan hệ giữa 2 người là mạnh: cha mẹ – con, mối quan hệ trên dưới trong quân sự, mối quan hệ giáo viên – học sinh.
  • Người ở vị trí quyền lực đưa ra 2 kiểu thông điệp: bằng lời và không bằng lời (con đừng đi chơi xa quá / con đừng quanh quẩn ở chân mẹ thế chứ; hay “mẹ muốn dịu dàng với con’ nhưng lại với thái độ cứng nhắc và nghi ngờ, hay nói là “đừng làm như vậy” nhưng đồng thời với thông điệp không lời “đừng khiến mẹ nghĩ con không yêu mẹ”)
  • Người phụ thuộc không có khả năng giao tiếp với thông điệp kép: họ không thể nói “con cảm thấy nhập nhằng bởi 2 thông điệp trái chiều này” hay “con đang ở trong ràng buộc kép”. Lý do: hoặc là họ không có quyền, không được phép. Hoặc tình huống quá nhập nhằng đến nỗi họ không thể giao tiếp, không biết làm gì, bị rối loạn, không diễn đạt tình huống bằng lời được.
  • Người ở thế quyền lực thêm vào mệnh đề tiêu cực gồm 3 yếu tố như sau: “con không thể rời bỏ nhóm/gia đình”, “nếu con rời bỏ, nghĩa là con không yêu mẹ”, “nếu con làm việc X, con vi phạm nguyên tắc khác của chúng ta”. Mệnh đề này nhằm vào nhân phẩm của nạn nhân, lên cái họ là mà không phải là cái họ làm. Ở đó có sự nhập nhằng ở mức độ logic.
  • Đó là một trải nghiệm lặp đi lặp lại nhiều lần: “con ngu thế”, “sau tất cả những gì mẹ làm cho con…” “thế là không tốt” , “đừng dại dột thế”
  • Sau cùng, sự lặp lại cũng không còn cần thiết nữa: nó thành những câu nói ảo giác trong đầu họ một cách tự động; hoặc họ luôn có suy nghĩ rằng người ở vị trí quyền lực muốn làm đau họ.

 

  1. Nhận diện ràng buộc kép

Các câu hỏi kiểu “con không làm…?”

  • Con không yêu mẹ?
  • Con không muốn thành công?
  • Con không biết điều gì tốt hơn thế à?
  • Con không muốn làm mẹ vui?
  • Con không muốn vào được trung học à?

Các câu hỏi kiểu “con không thể…”

  • Con không thể làm gì tốt hơn à?
  • Con không thể làm gì cho mẹ à?
  • Con không thể nghĩ đến điều gì khác à?
  • Con không thể tự nghĩ à?
  • Con không thể làm điều gì tốt à?

Các câu hỏi liên quan “tại sao?”

  • Tại sao con muốn làm mẹ buồn?
  • Tại sao con suốt ngày thất bại?
  • Tại sao con độc ác đến thế?
  • Tại sao con lại quyết định thay cho mẹ con?
  • Tại sao mẹ phải cố gắng vì con?
  • Tại sao con chẳng làm điều gì thế?
  • Tại sao lại sinh ra con cơ chứ?

Và một câu hỏi dạng “nếu…”

  • Nếu con thực sự yêu mẹ, vậy thì con sẽ làm điều đó cho mẹ.

Ràng buộc kép có thể có dạng khẳng định:

  • Sau tất cả những gì mẹ làm cho con, ít nhất con cũng có thể làm ít nhất một việc cho mẹ chứ.

 

  1. Nguyên tắc giải quyết ràng buộc kép

  • Giảm cường độ hoặc thay đổi bản chất mối quan hệ gây ra ràng buộc kép
  • Phân biệt các thông điệp nhập nhằng
  • Đưa ra các thông điệp rõ ràng/ phản biện
  • Lọc hoặc làm trung tính các thông điệp tiêu cực về bản sắc
  • Tìm phương tiện để “thoát ra khỏi khuôn khổ”
  • Ngăn cản tình huống này trở thành trải nghiệm tái diễn

Ngô Thị Thu Huyền, dịch tổng hợp từ internet

Đăng tải tại Ý thức và vô thức, Nghệ thuật tư duy và Cơ chế vận hành tâm trí, Tôi và mối quan hệ với bên ngoài (công việc, xã hội), Tôi và mối quan hệ với bản thân mình

Chìa khóa của thành công: lịch sự và biết cư xử

Bài báo sau đây giới thiệu một số cách thức cư xử lịch sự, nhất là dành cho những người trẻ, để giúp họ hòa nhập xã hội, giúp họ có phong thái thoải mái tự tin! Bài báo này giới thiệu một số nguyên tắc giao tiếp trong các liên hệ xã hội, đó cũng chính là cách để chúng ta bảo vệ những giá trị chính yếu: lòng yêu nước, lòng tự trọng và bác ái.

Đồ dùng trên bàn ăn:

  • Dao: giữ chặt, không đưa lưỡi dao vào miệng, không được chùi dao.
  • Thìa: dùng thìa ăn không phát ra tiếng ồn, không lấy thức ăn đầy thìa vì có nguy cơ đổ ra ngoài.
  • Nĩa: để bên trái đĩa ăn.
  • Cốc: không đổ nước đầy tràn, uống từng ngụm nhỏ.
  • Khăn ăn: mở rộng và để trên đùi, và đặt nó bên cạnh đĩa ăn.
  • Khi kết thúc bữa ăn, các đồ đã dùng để song song với nhau ở trong đĩa

Lắng nghe:

  • Giữ thái độ chăm chú đối với người nói
  • Không đảo mắt đi chỗ khác, ngay cả khi bài nói gây buồn chán
  • Không xem đồng hồ
  • Không ngáp
  • Không ngắt câu chuyện
  • Không xen vào khi đã biết nội dung

Nói

  • Biết nói, đó chính là biết cách làm cho người khác nghe, nhưng đặc biệt là biết làm người khác hiểu, biết giao tiếp với người khác.
  • Giọng nói là một khí cụ tuyệt vời nhất mà người ta có thể thực hành và rèn luyện để trở nên biểu cảm nhất
  • Nói rõ ràng các âm, từ để khiến cho câu nói trở nên dễ nghe, dễ hiểu.
  • Duy trì cuộc hội thoại chính là nuôi dưỡng các liên hệ xã hội, là điều chúng ta phải giữ gìn.
  • Giữ khoảng cách khi cuộc nói chuyện chạm tới sự riêng tư, bí mật, nhạy cảm.
  • Để khiến người khác lắng nghe, cần chuẩn bị những điều thú vị để nói.

Gọi điện thoại

  • Không bao giờ gọi điện thoại mà không nhìn giờ, nhớ cầm một chiếc bút để ghi chú lại địa chỉ, những con số, những chỉ dẫn.
  • Chuẩn bị thông tin trước sao cho đầy đủ và súc tích.
  • Quay số chính xác để không làm phiền những người không quen biết.
  • Sau khi xác nhận người nhận cuộc gọi, tự giới thiệu bản thân để cam kết về cuộc nói chuyện.
  • Nói một cách rõ ràng mà không lên giọng, không nói nhanh quá, và không bình luận vô ích.

Viết

  • Thực hành hàng ngày việc viết dù chỉ vài dòng về bất kỳ chủ đề gì.
  • Chọn phương tiện thích hợp và chỗ ngồi thoải mái.
  • Sử dụng câu ngắn và đơn giản.
  • Từ ngữ phải rõ ràng, phù hợp, với các vấn đề đặt ra cụ thể, câu ngắn gọn, từ vựng thỏa đáng, chuẩn mực.
  • Sử dụng các dấu câu để biểu đạt các cảm xúc phù hợp.
  • Trên phong bì, viết rõ tên và địa chỉ của người nhận đầy đủ.

Thể hiện lời chúc

  • Các lời chúc phải được thể hiện bằng ngôn ngữ trực tiếp, bằng điện thoại, bằng thư tín.
  • Với những thông tin nhận được, cần hồi âm ngay lập tức.
  • Trên bưu thiếp mà có khuôn mẫu sẵn, thì tốt hơn vẫn để lại một vài câu từ thể hiện cá nhân mình.
  • Những người trẻ hơn, thấp hơn về thứ bậc xã hội là những người nói lời chúc trước.

Giấy báo

  • Để báo tin, cách tốt nhất là gửi giấy báo được in ấn, với nội dung được soạn thảo cẩn thận.
  • Giấy báo sinh nên đi kèm với bức tranh có tính biểu tượng hay bức ảnh của em bé mới ra đời
  • Giấy báo cưới luôn có màu trắng.
  • Giấy báo tử được in trên giấy đóng khung màu đen và xám
  • Người nhận cần trả lời trong thời gian 8 ngày những lời chúc hoặc món quà khi liên quan tới sự kiện vui mừng.

Lời cảm ơn

  • Lời cảm ơn phải được thể hiện bằng ngôn ngữ trực tiếp, bằng điện thoại, bằng thư tín.
  • Câu “Cảm ơn” phải đươc nói ra kịp thời, rõ ràng, không thì thầm lí nhí, không bối rối lúng túng.
  • Câu “cảm ơn” là để biểu lộ sự ngạc nhiên, niềm vui hay sự biết ơn.
  • Nói “cảm ơn” cùng với nói “không” là để từ chối, và lời từ chối này không làm mếch lòng.
  • Luôn nói “cảm ơn” với trẻ em, để giúp trẻ em cũng biết nói cảm ơn với ý nghĩa và sức mạnh của lời cảm ơn.

Thể hiện xin lỗi

  • Cần biểu lộ những lời xin lỗi, hối tiếc tại sự kiện xảy ra: xin lỗi, tôi lấy làm tiếc, tha thứ cho tôi…
  • Những sự kiện rắc rối nghiêm trọng xảy ra đòi hỏi phải suy nghĩ và thời hạn để đưa ra một cách biểu lộ thuyết phục.
  • Khi có lỗi, thể hiện sự ăn năn mà không phải là hạ nhục mình.
  • Việc đưa ra những lời giải thích đơn giản là hữu ích.
  • Khi bị xúc phạm, thể hiện sự khoan dung.

Hành vi

  • Cần thích nghi với các lề lối của xã hội hiện tại.
  • Thể hiện sự sáng suốt, tỉnh táo, kiểm soát cơn giận và quản lý sự buồn tẻ.
  • Tránh các bẫy dẫn tới xu hướng buôn chuyện: ác ý hoặc bép xép.
  • Thêm vào những lời nói hay cư xử trong trường hợp cần thể hiện sự có mặt.
  • Kiểm soát bản thân.

Tìm việc

  • Soạn thảo sơ yếu lý lịch (CV) thể hiện rõ cá nhân, quá trình đào tạo, ngoại ngữ sử dụng được, các kinh nghiệm làm việc trước đây.
  • Khi đến hẹn gặp, mang theo CV, chuẩn bị một số ý tưởng về vị trí tuyển dụng
  • Giữ thái độ tự tin và bình tĩnh: giọng nói vững vàng, diễn đạt thoải mái.
  • Hình thức chỉnh tề: nghiêm túc và chỉn chu.
  • Ngồi ngay ngắn, ngồi sâu vào ghế, không đặt gì lên bàn.

Thăm hỏi

  • Người ta thăm nhau là để làm quen, để cảm ơn, để thể hiện lời chúc, lời chia buồn, lời chúc mừng, hoặc để gặp gỡ bạn bè
  • Ngay cả giữa bạn bè với nhau, cũng cần phải báo trước cuộc thăm viếng.
  • Trong trường hợp thăm người ốm, việc gặp mặt nên ngắn gọn, tránh nói to, đặc biệt là chọn món quà thăm hỏi phù hợp.
  • Biết chọn thời điểm phù hợp để không làm phiền người khác.

Tặng quà

  • Người ta tặng quà vì cần phải làm như vậy, để làm hài lòng người khác hoặc trong những tình huống đặc biệt.
  • Chọn quà phải lưu ý đến sở thích hoặc nhu cầu của người mình muốn tặng quà
  • Các đặc điểm của món quà: quà quý hiếm, quà phổ biến, quà hữu ích, quà sưu tập…
  • Những món quà riêng tư (nước hoa, đồ lót) là để dành cho người mình biết rõ.
  • Quà nên được gói lại ở các dịp như: Noel, lễ phục sinh, lễ ban thánh thể…

Tư thế ngồi trên bàn

  • Ngồi ngay ngắn, khiến người khác cảm thấy sự tự tôn
  • Việc ngồi không ngay ngắn thể hiện sự thờ ơ, sự thiếu tôn trọng hoặc sự lơ là bỏ qua
  • Ngồi sâu vào trong ghê, dựa lưng vào ghế mà không cứng nhắc.
  • Khi ngồi, có thể tì nhẹ tay lên bàn và đĩa ăn.

Ở trong đám đông

  • Không nên
    • Nhai kẹo cao su liên tục
    • Thực hiện những hành vi (chăm sóc) vệ sinh: cắt móng tay, ngoáy mũi, ngoáy tai, xoắn tóc
    • Ngáp, vươn vai, nói to giọng
    • Bình luận với sự ồn ào về kịch (ở trong nhà hát), về phim (rạp chiếu phim)…
    • Bóc giấy kẹo gây ồn ào
    • Cười ở chỗ không phù hợp

Ở nơi thiên nhiên

  • Không nên
    • Vứt rác hay những đồ đã dùng
    • Bẻ cành hay nhổ cây
    • Gây tiếng ồn ào (la hét, bật đài)
    • Bắn chim
    • Đốt lửa trong rừng
    • Gây ô nhiễm nước bằng cách vứt dầu hay các sản phẩm độc hại

Sống với sách

  • Sách là người bạn tốt nhất, cần phải trân trọng sách
  • Không gập các trang sách
  • Giữ gìn gáy sách và tránh làm hỏng sách, làm nhàu nát sách.
  • Giữ gìn sách đi mượn, và phải trả lại sách được mượn
  • Những cuốn sách hiếm, những bản viết tay quý, chỉ được tra cứu tại chỗ.

Trong ô tô

  • Trước khi xuất phát, phải cài dây an toàn
  • Tuân thủ tất các quy định giao thông
  • Làm chủ phương tiện, kiểm soát vận tốc
  • Ưu tiên người qua đường
  • Không phóng nhanh qua vũng nước để tránh làm bắn người đi đường

Đón tiếp

  • Thể hiện sự đón tiếp lịch thiệp, nhưng không thể hiện tình cảm
  • Không ôm hôn thắm thiết người đến lần đầu tiên, cũng không kiêu kỳ với người có vẻ ngoài khiêm tốn
  • Khiến cho người đến nhà cảm thấy thoải mái bằng việc đảm bảo cho họ những vị trí thuận tiện
  • Thu hút họ bằng những chủ đề phù hợp trong cuộc nói chuyện
  • Không biểu lộ sự thiếu kiên nhẫn trong trường hợp cuộc đến thăm kéo dài
  • Không để trẻ em tiếp xúc với những người khách lạ

Đúng giờ

  • Đúng giờ nghĩa là không sớm giờ, không muộn giờ.
  • Việc đến muộn cuộc hẹn có thể gây ra sự lo lắng
  • Trong trường hợp đến muộn vì lý do bất khả kháng, cần phải cố gắng báo cho người chờ đợi.

Nghĩa vụ mỉm cười

  • Người ta có thể tạo ra hạnh phúc bằng việc đơn giản
  • Theo một quy luật chung, nụ cười gọi ra nụ cười, việc mỉm cười là hồi đáp lại một nụ cười.
  • Truyền cảm hứng hơn là tạo ra sự thất vọng. Nụ cười mang lại sức mạnh thay vì thiếu vắng nụ cười làm mất đi sức mạnh.

Với bố mẹ

  • Sự tin cậy tương hỗ giúp vượt qua những thử thách và những điều khó khăn nhất
  • Việc trao đổi thẳng thắn, việc biểu lộ chân thành giúp tránh hiểu nhầm
  • Cảm xúc và sự trìu mến giữa 2 bên tạo ra bầu không khí an toàn
  • Sự tôn trọng được biểu lộ ngay cả trong những lúc nhiều chỉ trích sẽ tạo điều kiện và duy trì cuộc nói chuyện giữa 2 thế hệ.
  • Những quan tâm nhỏ đều có giá trị: tổ chức những buổi kỷ niệm, dành cho nhau sự lưu tâm ở bất kỳ một dịp nào, đều khiến cho gia đình gắn kết.

Một số trường hợp khác

  • Những người khuyết tật: chăm sóc chu đáo và cụ thể, đề nghị lời giúp đỡ, khiến cho họ cảm thấy họ là những người bình thường. Mời họ tham gia cùng với những người khác và như những người khác trong cả môi trường làm việc và những tình huống giải trí.
  • Những người già: thể hiện sự tôn trọng, lịch sự, cho họ cơ hội là nhân chứng (biểu lộ) khi có dịp.
  • Phụ nữ mang thai: chăm sóc họ, tạo điều kiện cho họ thoải mái, đỡ họ khi có chướng ngại vật trên đường, động viên họ bằng cách nói về hạnh phúc đang chờ đợi họ.

Giới thiệu

  • Lời giới thiệu được thực hiện khi mình đứng, giọng nói rõ ràng, không vấp và không nhầm lẫn.
  • Thứ tự: giới thiệu với người trẻ về người già hơn, giới thiệu với đàn ông về đàn bà, giới thiệu với người quen về người lạ.
  • Nên bổ sung thêm vị trí hay nghề nghiệp của người được giới thiệu.

Ngô Thị Thu Huyền,

dịch từ nguồn: http://www.espacefrancais.com/la-cle-de-la-reussite-politesse-et-savoir-vivre/

Đăng tải tại Nghệ thuật sống Kỹ năng sống Tư duy tích cực, Tôi và mối quan hệ với bên ngoài (công việc, xã hội)

Trầm cảm sau sinh, nỗi đau của người phụ nữ

Bị trầm cảm sau sinh, người mẹ có thể cảm thấy tuyệt vọng, đau khổ, thậm chí nghĩ đến tự sát hoặc làm đau đứa con mới chào đời.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Sức khỏe tâm thần trong cuộc sống, Tôi và mối quan hệ với bản thân mình, Trầm cảm

Phát triển một tâm trí mềm dẻo

Tôi bị thuyết phục rằng một tâm trí mềm dẻo giúp chúng ta đối mặt với những rối loạn, mất mát, những thay đổi lớn của cuộc đời, những điều phiền lòng và những ấm ức, hụt hẫng.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Nghệ thuật sống Kỹ năng sống Tư duy tích cực, Nghệ thuật tư duy và Cơ chế vận hành tâm trí, Tôi và mối quan hệ với bản thân mình, Trầm cảm

Đừng cố gắng “quản lý” các cảm xúc của bạn: hãy chung sống (tốt hơn) với chúng!

Chẳng có gì để làm: tất cả chúng ta đều là những con người (có/với) cảm xúc. Sợ, giận dữ, buồn, đau khổ, niềm vui, chúng đi theo ta suốt cả cuộc đời. Và thế thì càng tốt!

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Nghệ thuật tư duy và Cơ chế vận hành tâm trí, Sức khỏe tâm thần trong cuộc sống, Tôi và mối quan hệ với bản thân mình