Ám thị có chỉ gắn liền với thôi miên hay không?

Ám thị và thôi miên

Khái niệm “Ám thị” được đưa ra bởi James Braid khi ông nói về thôi miên, sau đó được Ambroise-Auguste Liébeault tiếp tục sử dụng. Ám thị được định nghĩa và được quan niệm như một quá trình tâm lý chính thức bởi Hippolyte Bernheim. Năm 1884, Berheim định nghĩa ám thị như “hành động sinh ra một ý tưởng hay một suy nghĩ trong bộ não và được chấp nhận”. Cùng quan điểm của Berheim, Joseph Delbœuf và các thành viên khác của trường Nancy (Pháp) cho rằng, chính ám thị dẫn đến thôi miên chứ không phải bất kỳ hiện tượng sinh lý nào. Quan điểm này đối lập với Jean-Martin Charcot và Pierre Janet trường École de la Salpêtrière. Trong cuộc luận chiến giữa 2 trường, Janet đã tuyên bố vào năm 1889 rằng: “Tôi không sẵn sàng tin rằng ám thị có thể giải thích, đặc biệt là nó có thể tự lý giải bản thân nó”.

Nhưng Janet và Berheim gặp nhau trong ý tưởng về tính ám thị không nhất thiết chỉ liên quan tới thôi miên.  Janet đã viết trong thuyết “cơ chế tự động của tâm lý” rằng: “tính ám thị có thể hoàn toàn ngoài trạng thái thôi miên sâu, nó có thể hoàn toàn vắng mặt trong trạng thái thôi miên rất sâu”. Berheim đã đề xuất vào năm 1891 rằng các ám thị mang tính tâm lý liệu pháp cũng tốt,  nếu không muốn nói là tốt hơn khi không có thôi miên. Người ta cũng tìm thấy ý kiến tương tự của  Milton Erickson, người có sử dụng thôi miên mà không có các nghi thức (trình tự) mang tính thôi miên.

Dược sĩ Émile Coué, tác giả với  phương pháp nổi tiếng mang tên ông, đã áp dụng các kỹ thuật ám thị của  Liébeault và Bernheim vào năm 1885

Ám thị và tâm lý

Trong cuộc tranh cãi giữa 2 giáo sư, Berheim và Charcot, Sigmund Freud lúc đó làm việc với trường École de la Salpêtrière. Năm 1921, nhìn lại giai đoạn này, ông nói rằng việc chống lại tính câu thúc, không cưỡng lại được của ám thị hướng đến “sự nổi dậy chống lại những sự kiện mà ám thị phải tránh / miễn giải thích”.

Giống như Charcot, người trái ngược với Janet, Berheim hay Erickson, Freud  cho rằng tính ám thị là đặc trưng của thôi miên,  trong đó thôi miên được coi như một trạng thái khách quan. Và như vậy, khi từ chối thôi miên, ông cho rằng ông loại bỏ được ám thị.

Đối với Freud, ám thị có hạn chế trong việc ứng dụng các sự kiện do sự khác nhau về tính ám thị của bệnh nhân. Kế thừa Charcot, ông nghiên cứu mẫu các bệnh nhân có khả năng bị ảnh hưởng của ám thị cao là những người bị các rối loạn phân ly, nhưng, cũng những người này, các kỹ thuật ám thị hay thôi miên lại không đủ mạnh để trị liệu. Sau khi xây dựng mô hình trị liệu, ám thị trở thành một kiểu tác động trung tính, không can thiệp và quá trình xã hội hoá của bệnh nhân.

Cùng thời với Freud, nhiều bác sĩ tâm thần như Eugen Bleuler hay Leopold Löwenfeld lại coi ám thị có vai trò rất quan trọng trong việc phân tích.  Leopold Löwenfeld viết trong một bài báo vào năm 1899 rằng “các bệnh nhân chịu các ảnh hưởng ám thị của người phân tích họ” và Bleuler vào năm 1896, “rất có thể sự thành công trị liệu của phương pháp cathartique đơn giản dựa trên ám thị”. Freud, về phần ông, luôn luôn giữ quan điểm rằng ám thị không can thiệp vào cấu trúc phân tích.

Gần đây, các nhà phân tích như Michel Neyraut hay René Roussillon coi việc phân tích tâm lý có liên quan tới các ảnh hưởng của ám thị. Francoi Roustang trong bài báo “Ám thị, câu chuyện dài” xuất bản năm 1978, nhấn mạnh vai trò của ám thị trong cấu trúc phân tích tâm lý. Bài báo này in lại vào năm 1980 trong quyển sách “Elle ne lâche plus”.  Mikkel Borch-Jacobsen nhấn mạnh vào năm 2002 rằng “việc Freud từ chối vai trò của ám thị chỉ phù hợp về lý thuyết với một sự khách quan lớn trong mối quan hệ trị liệu, trong đó, lời nói của bệnh nhân chỉ đưa ra một cơ chế tâm lý thuần tuý có thể quan sát được từ bên ngoài”

 Nguồn: http://fr.wikipedia.org/wiki/Suggestion

This entry was posted in Nghệ thuật sống Kỹ năng sống Tư duy tích cực. Bookmark the permalink.