Sự chịu đựng tâm trí và khó khăn tâm lý ở lứa tuổi trẻ em (từ 6 đến 12 tuổi)

Nội dung 

  • Điều gì diễn ra ở lứa tuổi này
  • Tính bình thường và vấn đề tâm bệnh lý
  • Đứa trẻ lo âu
  • Đứa trẻ mỏi mệt
  • Đứa trẻ thường xuyên vắng mặt
  • Đứa trẻ phàn nàn về các dấu hiệu cơ thể
  • Đứa trẻ có khó khăn trong học tập
  • Đứa trẻ buồn bã
  • Đứa trẻ tự cô lập
  • Đứa trẻ khác thường

Điều gì diễn ra ở lứa tuổi này?

Ở trong giai đoạn mà người ta vẫn gọi là “giai đoạn ẩn tàng”, trẻ dần dần nhận ra những hứng thú mới, những tri thức mới ở trong trường học và ở bên ngoài xã hội, trẻ cũng sẵn lòng tham gia các hoạt động trí tuệ, thể thao, và văn hóa.

Việc học tập bắt đầu được đầu tư tốt hơn khi trẻ giảm sự quan tâm của mình tới mối quan hệ ơ-đip (œdip). Các mối quan hệ được được thay đổi và mở rộng ra bên ngoài khuôn khổ gia đình, trẻ có nhiều cơ hội hơn cho những đồng nhất mới (giáo viên, bạn bè, huấn luyện viên thể dục…)

Trẻ cũng phát triển các chức năng như ngôn ngữ phong phú và lưu loát hơn, làm các công việc giúp đỡ người lớn, hứng thú và quyết tâm…

Giai đoạn này cũng không luôn yên bình hơn các giai đoạn khác… Những phản ứng với các hành vi chống đối, nhu cầu đối chất, các xung năng trong giai đoạn tiền dậy thì được tái kích hoạt, xuất hiện thường xuyên hơn, ở nhiều trẻ thì rõ rệt. Tuy vậy, đó trên hết vẫn là giai đoạn mà cần tính đến các bộc lộ không gây những ảnh hưởng mang tính cản trở có thể xuất hiện trong lĩnh vực của các mối quan hệ, lĩnh vực nhận thức và học tập.

Tính bình thường và vấn đề tâm bệnh lý

Bất kỳ đứa trẻ nào cũng có những khó khăn trong quá trình phát triển tâm lý. Câu hỏi đặt ra, và cũng là vẫn đề cần phải giải quyết, là việc nhận ra các dấu hiệu của sự chịu đựng tâm trí mà đang hình thành trong trẻ, được định vị và có thể gây ra những khó khăn chủ yếu trong tương lai. Một trong các tiêu chí là ức chế các xung năng ham muốn hiểu biết và sự dồn nén thế giới mang tính tưởng tượng, việc dồn nén này cũng được hiểu là một ức chế. Các dấu hiệu báo về sự thuận lợi của trẻ là sự vui thích khi tham gia vào các hoạt động, sự tự do trong trí tưởng tượng.

Tính bình thường là ngay cả khi có một số biểu lộ cảm xúc và lo lắng. Nói chung, khi có một sự chậm lại, thoái lùi hay dừng sự phát triển, đó là khi lo hãi hay lo âu vượt quá những khả năng đối đầu của trẻ, và cần phải xem xét những biểu hiện này.

Cần chú ý tới khả năng hồi phục hay không của các biểu hiện này và các cơ chế phòng vệ. Sự mạnh khỏe có thể được định nghĩa bằng sự mềm dẻo của những sự đầu tư (tâm trí), khả năng phục hồi, sự biến đổi của các cơ chế phòng vệ, khả năng tìm thấy sự hài lòng trong sự vận hành của các hoạt động tâm lý, khả năng gắn bó với những nhiệm vụ mới, chuyển sự quan tâm tới những người khác thay cho mối quan hệ ơ-đip, tính cá nhân, mức độ ham muốn hiểu biết. Đó cũng là sự khoan dung đối với những thương tổn và khả năng thỏa hiệp với bạn bè trang lứa. Cần nhận ra sự biến đổi và sự linh hoạt của quá trình phát triển, và tính tương đối của sự quan sát lần đầu, chấp nhận một số cấp độ ngoài lề.

Đứa trẻ lo âu

đứa trẻ lo âuNhững đứa trẻ thường xuyên thể hiện sự lo âu, có thể cũng là thời điểm nhất thời của trẻ. Người lớn xung quanh trẻ phải tự hỏi về mức độ rối nhiễu và sự kéo dài các biểu hiện để đưa ra các câu trả lời cho triệu chứng này. Trên thực tế, bất kỳ một biểu hiện lo âu nào đều không được xem xét ngay là tâm bệnh. Lo âu của trẻ thường được nhận thấy trong giai đoạn học tập. Nếu mức độ của nó không cản trở cuộc sống và hoạt động học tập, thì đó lại là một minh chứng cho khả năng đối đầu với thực tế, và là sự hình thành cảm giác trách nhiệm trong trẻ.

Trong môi trường học tập, lo âu của trẻ có thể nhận ra trong tình huống trẻ đối diện với khả năng thất bại. Nó giống như một sự nghe ngóng. Người lớn lưu ý thường xuyên về sự mất ngon miệng và các rối loạn về giấc ngủ của trẻ nữa. Nói chung, đứa trẻ lo âu sống trong một bầu không khí lo lắng và e sợ. Đứa trẻ lo âu có nhiều nỗi sợ khác nhau và tìm kiếm sự vỗ về, an ủi.  Đứa trẻ ấy rất nhạy cảm với tất cả mọi sự chú ý đến hành vi của nó.

Người ta cũng gặp những mối lo lắng và nghi thức mang tính ám ảnh, các hành vi ám sợ liên quan tới né tránh, và xu hướng thể hiện ra ngoài của các xung đột, sự khó ngủ, sự mệt mỏi. Nỗi lo âu cản trở thường xuyên giấc ngủ và có thể được diễn dịch thành sự nổi nóng, dễ cáu giận và xu hướng cô lập.

Khi nỗi lo âu trở nên trầm trọng hơn, nó có thể biểu lộ ra thành các cơn khủng hoảng và những sự phàn nàn về cơ thể, buồn bã lo lắng (đau đầu, buồn nôn, đau bụng…)

Ngược lại, cũng cần nhận ra nỗi lo âu của một đứa trẻ tìm kiếm cách che đậy bằng cách thể hiện ra sự bình tĩnh bên ngoài.

Đứa trẻ mỏi mệt

the girl made homework

Khi một bạn học sinh lờ đờ, uể oải, thiếu sức sống, hay ngủ gật trong lớp, có thể nói bạn đó là “mỏi mệt”. Sự mệt mỏi này có thể thoáng qua, liên quan đến sự thay đổi các hoạt động, ví dụ như giải trí nhiều quá hoặc chơi thể thao nhiều quá. Sự phàn nàn về chuột rút, đau mình mẩy hay đau đầu, cảm giác nóng trong dạ dày, các rối loạn tiêu hóa cũng có thể là thể hiện của sự mệt mỏi. Những biểu hiện này có thể đi cùng với sự nổi nóng, cáu giận, sự vô cảm hay đối lập với sự hưng phấn quá mức là sự thu mình, thu rút. Đứa trẻ cũng có thể đơn giản là thể hiện sự mệt mỏi chung chung mà không lý do gì.

Những thông tin này luôn khiến ta cần tìm hiểu thêm, liệu có cả những biểu hiện khác như kết quả học tập giảm, và có các biểu hiện cơ thể như gầy đi, xanh xao, tật máy cơ và các rối loạn giấc ngủ (ít ngủ, ác mộng, đi vào giấc ngủ khó khăn, thức dậy giữa đêm)

Đứa trẻ thường xuyên vắng mặt

Những sự vắng mặt thường xuyên của trẻ ở trường tiểu học là gây sự lo lắng nếu không được gia đình giải thích rõ. Điều này là một phần của những vấn đề mang tính “im lặng”, mà chúng cũng cần được quan tâm giống như những vấn đề mang tính bề nổi, và thúc đẩy sự phân tích theo chiều sâu hơn về mặt ngữ cảnh và các dấu hiệu có liên quan.

Rất cần phân biệt các tình huống mang tính vắng mặt có liên quan đến:

  • Những khó khăn có thể được giải quyết bằng việc trao đổi với phụ huynh;
  • Những tình huống xã hội hay gia đình có khó khăn;
  • Từ chối việc đến trường học mà không có các phản ứng lo hãi đi kèm (lo hãi thường đi kèm với việc trẻ không muốn đầu tư vào học tập);
  • Khó khăn liên quan đến việc chia tách mẹ hay bố, thể hiện một lo hãi chia ly; với vấn đề này, việc tư vấn các chuyên gia là cần thiết;
  • Ám sợ trường học, ám sợ này xuất hiện trước hiện tượng chối bỏ việc đến trường, đôi khi ám sợ này tiến triển từ từ, nhưng rất thường xuyên là xuất hiện đột ngột và đi kèm với nỗi lo hãi khủng hoảng. Các phản ứng sợ hãi kinh hoàng hơn là có thể khi trẻ bị cưỡng bức đến trường. Cha mẹ nói rằng sự đứa trẻ bình tĩnh trở lại khi được đảm bảo là sẽ được ở nhà, ở nhà thì trẻ thậm chí học tập chăm chỉ nhiều hơn. Đứa trẻ không thể nói ra lý do của chúng, chúng thường hứa là ngày hôm sau thì sẽ đến trường, nhưng ngày hôm sau lại lặp lại như vậy. Đứa trẻ thường tỏ ra là ổn khi không nhắc tới chuyện tới trường, và cũng tỏ ra rất hợp tác trong giai đoạn này.

Đứa trẻ phàn nàn về các dấu hiệu cơ thể

somatisationCần phải chú ý tới những trẻ phàn nàn thường xuyên, lặp đi lặp lại, những vấn đề thể chất khác nhau. Các phàn nàn đó thường gặp là:

  • Đau bụng, kèm theo hoặc không việc nôn ọe;
  • Đau đầu;
  • Cảm giác chóng mặt, có hoặc không kèm với sự khó chịu;
  • Mệt mỏi (tham khảo thêm “Đứa trẻ mỏi mệt”);
  • Bất kỳ một phàn nàn nào liên quan đến các bộ phận của cơ thể;

Đứa trẻ có khó khăn trong học tập

difficultéscolaireĐối với những đứa trẻ có khó khăn trong học tập, cần xem xét điểm giao nhau của 2 cách tiếp cận về phát triển nhận thức và phát triển tâm lý cảm xúc để hiểu về ý nghĩa của những khó khăn này. Một cách cụ thể, cần phải nhận ra các chiều kích tâm trí và nhận thức, bằng cách xem xét tới các phương tiện giáo dục và sư phạm trong lớp, trong tiến trình đánh giá tình trạng của trẻ.

Rất cần có một chẩn đoán chính xác về các biểu hiện của trẻ:

  • Một đứa trẻ khi được gửi tới trị liệu ngữ âm, thì đó là chỉ định của bác sĩ, không phải của giáo viên;
  • Bác sĩ là người đề nghị gửi trẻ đi trị liệu các khó khăn liên quan đến học tập, nhưng đó không phải là mục đích đầu tiên;
  • Việc hợp tác với toàn bộ các thành viên trong nhóm giáo dục cho phép tránh được cái gọi là “rối nhiễu” bởi rối nhiễu thường là khi đã trở nên khó khăn;

Đứa trẻ buồn bã

Đứa trẻ buồn bãNỗi buồn ở trẻ là một dấu hiệu khó để giúp đỡ trẻ bởi vì biểu lộ của trẻ rất khác với người lớn, rất “đa hình”. Mặc dù vậy, có nhiều rối nhiễu trầm uất ở trẻ, trong đó có ảnh hưởng khiến trẻ muốn tự tử, nhưng cũng hiếm hơn nhiều so với trẻ vị thành niên. Những biểu hiện trầm uất tương đương có thể tìm thấy trong tất cả các vấn đề tâm bệnh của trẻ nhỏ và được quan sát thấy ở cả trẻ bị rối loạn dạng cơ thể cũng như hành vi.

Các biểu hiện có thể trái ngược như sau:

  • Đứa trẻ thu rút, thu mình, cô lập, sợ sệt. Sự ức chế thường thể hiện ở ngôn ngữ, cử chỉ, tư duy. Kết quả học tập trung bình hoặc xuống dốc. Người ta có thể nói đứa trẻ ấy là lười biếng hoặc không thích học mặc dù thái độ này là mới diễn ra, hoặc đi kèm với lo âu hoặc tự đánh giá thấp bản thân.  Đôi khi, trẻ cũng thể hiện sự bất lực hoặc thất chí, có ý tưởng về các chết. Trẻ cũng có thể nói tới cái chế, về sự mất mát của một người thân trong gia đình hay một con vật nuôi. Khá thường xuyên, đó là đứa trẻ vắng mặt trong ngữ cảnh trường học. Khi trẻ có mặt, thì trẻ sẽ phàn nàn về việc đau bụng, đau đầu, và mong muốn trở về nhà. Trong trường hợp nặng, những biểu hiện của ám sợ trường học.
  • Ngược lại, đó có thể là đứa trẻ hiếu động, hung tính, vô kỷ luật, thậm chí là tăng động. Đôi khi, đó là trường hợp một được trẻ được chữa trị với khó khăn liên quan đến “tăng động” hoặc có các rối loạn chú ý;

Đứa trẻ tự cô lập

Đứa trẻ tự cô lập mìnhViệc cô lập của trẻ là một thái độ thu rút, điều này ảnh hưởng tới các quan hệ xã hội và sự trao đổi của trẻ, đặc biệt về mặt ngôn ngữ, thường dẫn tới né tránh xã hội và/hoặc chứng lặng thinh; người ta nói về sự thu mình và hạn chế tương tác. Đứa trẻ nhút nhát, đứa trẻ trầm buồn, đứa trẻ lo âu cũng có những biểu hiện cô lập.

Thái độ này là một phần của các vấn đề mang tính “im lặng”,  cũng cần được cảnh báo giống như các vấn đề biểu hiện rõ rệt, và cũng là dấu hiệu của sự chịu đựng tâm trí. Hành vi này cũng có thể có chung với các dấu hiệu khác và có thể nhận ra ở trong gia đình.

Cần phải phân biệt đứa trẻ mộng mơ với đứa trẻ cô lập, nhưng đứa trẻ mộng mơ không đẩy người thân ra xa mình. Một hành vi không đặc trưng có thể lại là một dấu hiệu cần giúp đỡ, bởi nó có thể là biểu hiện của nhiều khó khăn khác nhau và cũng đòi hỏi phải phân tích ngữ cảnh và các dấu hiệu đi kèm.

Các nguyên nhân thì rất khác nhau. Việc cô lập có thể là một hành vi mang tính phản ứng, có liên quan đến các sự kiện trong cuộc sống:

  • Khó khăn ở bên ngoài mà trẻ trải qua. Có thể đó là một sự kiện như chia tách, bệnh của bản thân hay của người xung quanh, thay đổi môi trường sống… Hành vi cô lập có thể cần đến nâng đỡ tâm lý, liên quan đến việc thích nghi của trẻ với tình huống trẻ trải qua;
  • Khó khăn mà trẻ đối diện ở trường học: khó khăn trong học tập, giáo viên có thể nhìn ra điều này, đặc biệt là trong các lớp bản lề, hoặc các khó khăn trong các mối quan hệ với các nhóm bạn;
  • Các sự kiện nặng nề, liên quan đến sang chấn (như là bị bỏ rơi, đối xử tồi tệ… ) và thường có các dấu hiệu đi kèm (rối loạn giấc ngủ, kết quả học tập, buồn trầm);

Việc cô lập là một dấu hiệu trong số các khó khăn tâm trí khác và có thể bộc lộ ra trong nhiều tình huống lâm sàng khác:

  • ức chế: cô lập phù hợp với một sự hiện diện của một đứa trẻ ngoan quá, điều đó khiến trẻ không bộc lộ được tiềm năng của trẻ và khiến trẻ né tránh các quan hệ xã hội; đứa trẻ nhìn từ bên ngoài là dễ bảo, ngoan ngoãn một chỗ; nếu ức chế là nặng nề hơn, cần phải đặt vấn đề về một rối loạn về nhân cách, nếu ức chế là một phần, nó thể hiện ra bằng một sự cô lập xã hội nào đó và có thể cải thiện trong tình huống an toàn, hoặc bằng một sự ức chế tư duy với sự nghèo nàn trong các hoạt động và thất bại trong học tập;
  • rối nhiễu trầm uất: nỗi buồn và sự hạn chế tương tác, hạ thấp giá trị bản thân, rối nhiễu hành vi ăn uống và giấc ngủ, các biểu hiện dạng cơ thể (đau đầu) cũng có liên quan. Thậm chí có những suy nghĩ tự tử, cần phải tìm hiểu, đánh giá, lắng nghe, mặc dù hiếm khi suy nghĩ đó chuyển sang hành động.
  • lo âu bệnh lý: việc cô lập là sự tìm kiếm sự bảo vệ, hoặc né tránh các tình huống gây lo âu (chủ yếu là trong sự giao tiếp với người khác, hoặc đối diện với việc học tập…). Nỗi lo lắng có thể bộc lộ ra thành các triệu chứng cơ thể (đau bụng, nôn ói…), sự e sợ các tình huống, sự lo sợ về tương lai, rối loạn giấc ngủ; nỗi lo lắng ấy có thể là lo lắng về chia tách, và sự lo lắng cản trở đến việc học tập của trẻ ở trường…
  • rối loạn ngôn ngữ, phát âm: việc cô lập gây khó khăn trong các mối quan hệ liên cá nhân được gây nên bởi những khó khăn trong ngôn ngữ.
  • rối nhiễu nghiêm trọng về nhân cách và về sự phát triển: sự cô lập trở nên trở nên trầm trọng với những khó khăn trong tương tác, tham gia vào nhóm, những khó khăn trong việc tổ chức và biểu lộ tư duy, các giai đoạn phát triển của trẻ bị cản trở, có thể cũng có những bốc đồng, các hành vi kỳ quặc, chậm khôn…

Đứa trẻ khác thường

Childhood-schizophreniaĐằng sau thuật ngữ “khác thường”, cần phải nhận ra rằng những đứa trẻ dường như là đặc biệt này, không giống những đứa trẻ khác, chúng kỳ cục. Đó là những đứa trẻ khiến người khác lo lắng, nhưng không bởi những rối loạn hành vi rõ ràng, cũng không phải do những liên quan đến kết quả học tập khó khăn.

Đó có thể là những đứa trẻ:

  • Chưa trưởng thành đúng tuổi;
  • Quá ngoan ngoãn;
  • Có khoảng cách;
  • Dường như thiếu cảm xúc với sự lạnh lùng về mặt tình cảm;
  • Khó phân biệt giữa thực tế và tưởng tượng;
  • Không khóc khi người khác làm chúng đau;
  • Có những sự quan tâm nhất định nào đó;
  • Chỉ sống trong “thế giới của chúng”;
  • Có khó khăn trong các mối quan hệ, chơi một mình;

Việc mô tả các dấu hiệu đáng lo vẫn còn được tranh luận ở trong nhóm giáo dục.  Việc mô tả cần có ý kiến của các giáo viên qua các năm học để biết trẻ luôn như vậy, hay chúng có thay đổi, hay tình trạng nặng nề hơn.

Việc xem xét các hành vi trong học đường của trẻ cho ta biết được trẻ có những điểm đặc biệt trong trường học: khó khăn trong việc hiểu, sự không hài hòa, kết quả học tập phụ thuộc tùy từng môn, sự phát triển sớm…

 Ngô Thị Thu Huyền, biên dịch từ nguồn: http://www.sante.gouv.fr/IMG/pdf/Guide_Souffrance_psy_Enfant_ado_2014.pdf

This entry was posted in Các rối loạn khác, Sức khỏe tâm thần trong cuộc sống. Bookmark the permalink.