Paul hay là lời nói của vị bác sĩ

Trích Maud Mannoni, L’enfant, “sa maladie” et les autres (Trẻ em, “căn bệnh” và những người khác),

Paris, Seuil, 1967, tr.127-132

Paul, 2 tuổi rưỡi, lại trải qua một đợt nhập viện mới. Biếng ăn, mất ngủ, những triệu chứng của em thống trị hoàn toàn ngôi nhà. Người ta có tìm cách la mắng em không? Em ngất xỉu. Người ta có cho em thuốc an thần không? Em nấc nghẹn ngào, quặn thắt, và còn nữa, em đã đáp trả việc mẹ ép ăn bằng một cơn dị ứng khủng khiếp. Mẹ em tuyên bố đầu hàng, thấy mình gần như bên bờ vực sụp đổ tinh thần: “Thằng con này quá đủ với tôi rồi”, bà nói cho tôi hay.

Con út trong gia đình có 6 anh chị em, Paul ra đời đúng vào ngày anh cả em đám cưới. Thai nhi ngoài ý muốn. Người mẹ cảm thấy vô cùng tội lỗi khi có mang ở độ tuổi ấy. Khi vừa được sinh ra, Paul đã được giao nuôi cho một người chị lớn và một số bàn tay chăm sóc lão luyện khác. Bằng chính triệu chứng của mình, đứa trẻ đã đảm bảo được sự hiện diện của mẹ bên cạnh mình. Thường xuyên nôn mửa, thức trắng đêm, Paul đứng trước nguy cơ của những cơn khủng hoảng tinh thần. Bà mẹ cảm thấy khó chịu vì không thể thỏa được mong muốn ở xa con mà luôn bị những tiếng kêu của Paul níu chân lại. Mẹ đáp ứng lại những mong muốn yêu thương bằng việc chăm sóc con. Dần dà Paul trở thành một vật thể được chăm sóc tới tận răng. Paul không còn ham muốn gì nữa (tức là những chăm sóc của người mẹ chính là tất cả), và chính tại đó mà đỉnh điểm của cơn biếng ăn diễn ra.

Cuộc sống trong ngôi nhà được sắp xếp (hay bị xáo trộn) theo những đòi hỏi của Paul. Paul làm mình làm mẩy và mặc sức điều khiển người mẹ. Mẹ em đuối sức vì lúc nào cũng phải đáp ứng những đòi hỏi, ham muốn trái khoáy của đứa con. Paul không chịu đựng nổi việc vắng mẹ, nhưng mỗi khi mẹ ở gần em, Paul luôn từ chối tất cả những thứ mà bà mang đến. Người cha, đứng bên ngoài, tránh né mọi sự can thiệp dù là nhỏ nhất.

Vào khoảng 18 tháng, những cơn “co giật” của Paul đã đưa em đi thăm khám tâm thần: “Thằng bé này, vị bác sĩ nói, sẽ phá bà tan tành nếu bà không phá nó trước ». Cứ mỗi khi lên cơn, theo cách nói của bà mẹ, Paul “trở nên kích động”. Em phản ứng lại bằng mọi trạng cương cứng kèm theo động tác thủ dâm. Vị bác sĩ kia khám cho em thêm một lần nữa, giải thích cho mẹ (trước mặt em) bản chất của sự cương cứng và cơn đau kèm theo, ông ta nói thêm “Cơn đau này thật đáng sợ”. Lời nói ấy nhắm đến lo hãi của người mẹ, và Paul nhớ rất rõ nó. Hàng đêm, em choàng tỉnh dậy, cương cứng, kêu mẹ dậy và nói “Con đau quá”, và ngủ ngay khi em đã “đưa” cái lời nói đó xong. Sự cân bằng tinh thần của người mẹ bị lung lay. Paul bị gửi đi nhà trẻ 3 tháng. Tại đó, em tìm lại được giấc ngủ nhưng mất lời nói hoàn toàn. Lúc 2 tuổi rưỡi, khi trở về gia đình, Paul bắt đầu nói lại được nhưng lại mất giấc ngủ và từ chối, thức ăn. Trong những cơn chống đối, Paul tự làm mình bị thương: em không thể chịu đựng được việc mẹ em chăm sóc cho một đứa trẻ khác. Sự lo hãi về việc sẽ lại bị gửi đi nhà trẻ được bộc lộ bằng những cơn viêm thanh quản rít kế tiếp nhau. Tinh trạng của Paul đột nhiên trở nên trầm trọng: “Đứa bé này không muốn sống nữa, phải cho nó nhập viện gấp”, vị bác sĩ đưa ra lời khuyên. Cha Paul phản đối lời đề nghị này và đưa Paul đi chăm chữa phân tâm.

Vì bận công việc, người cha vắng mặt ở 2 buổi gặp gỡ đầu tiên, và tôi làm việc một mình với người mẹ. Lời nói của mẹ Paul xoay quanh chủ đề người cha. Paul rất gắn bó với cha, nhưng rất ít khi gặp ông. Mẹ em đã thiết lập quy tắc cứng nhắc nhằm loại Paul ra khỏi cuộc sống gia đình: “Vì nó còn nhỏ, nó cần phải có một cuộc sống riêng. Tôi luôn sợ rằng tôi bị nó bắt lấy”. Sự lo âu của người mẹ được kết tinh xoay quanh sự đe dọa bị mất uy quyền (quyền lực). Paul đáp trả điều đó bằng cách lúc nào cũng đòi hỏi “một thứ gì đó” để luôn đặt mình vào vị thế không được thỏa mãn. Và cứ mỗi sự đáp ứng thì lại dẫn đến một đòi hỏi khác, chẳng bao giờ được thỏa mãn hoàn toàn. Paul kéo người mẹ vào trong một cái vòng mâu thuẫn: em tập trung những cơn khủng hoảng xung quanh một sự từ chối – mặt trái của một lời kêu gọi. Thiếu vắng sự can thiệp của người cha và việc bị loại khỏi nhịp sống của gia đình đã càng làm cho những hậu quả của tình trạng này thêm trầm trọng. Những quy tắc do người mẹ đưa ra được cảm nhận như là độc đoán. Giữa mẹ và con trai nổ ra một cuộc chiến về sự uy tín (chẳng ai “nhượng bộ” ai, nhưng là nhượng bộ điều gì?). Dần dà người mẹ nhận ra sự hỗn loạn trong đó mình cũng dính líu, và bà thấy được không chl sự thiếu vắng mối quan hệ tam giác mà còn là những thứ gây cản trở cho mối quan hệ mẹ-con. Paul không thể để mất mẹ, vì mẹ em (để tự bảo vệ chống lại ý định bỏ rơi con mình) không thể để mất Paul. Chưa bao giờ có một đường ngăn cách giữa hai mẹ con được tạo dựng nên: mọi thứ diễn ra như thể việc cai sữa chưa từng xảy ra. Chưa ai, cả mẹ và Paul, có thể tự sống với một ham muốn của riêng cá nhân mình, mà chỉ sống để làm cho người kia thêm mệt mỏi. Có một trục quan trọng đã bị thiếu hụt. Sự can thiệp của tôi dựa trên việc cấm cản những thứ gây cản trở trong mối quan hệ này có thể xuất hiện, nhằm vào việc thiết lập luận cấm loạn luân và tạo lập ý niệm về một yếu tố thứ ba. Hình thức của công việc can thiệp của tôi có thể gây tranh cãi vì nó mang màu sắc khuyên bảo. Tuy vậy, tôi luôn dựa vào lời nói của người mẹ để tiến tới. Người mẹ này biết những thứ cần làm nhưng bà không ý thức được điều đó. Lời nói của tôi nhắm đến một dạng thực tế đã được người mẹ dự cảm từ trước. Tôi bắt đầu tháo gỡ tình huống. Những lời khuyên được đưa ra có dạng thức như sau:

  1. Hướng đến một sự tự do hoàn toàn cho Paul, miễn là sự tự do này không gây phiền hà cho những người khác (quyền được từ chối ăn, uống, tắm rửa, với điều kiện là nhịp sống riêng ấy không phải tuân theo việc Paul làm mình làm mẩy).
  2. Nếu Paul thức dậy trong đêm và cất tiếng gọi, tôi muốn là người cha sẽ là người ngồi dậy để nói: “Con muốn làm gì thì làm, nhưng hãy để cha yên với mẹ, cha mẹ cần phải ngủ”.

Những lời khuyên ấy đã có công năng như những lời diễn giải phân tâm, đưa người mẹ về với những phòng vệ gắn liền với cảm giác tội lỗi thời Oedipe của chính bà. Những rối nhiễu của Paul biến mất trong vòng 2 ngày sau khi người mẹ đến gặp tôi.

– Vợ cha là ai?, câu hỏi bất ngờ của Paul dành cho cha.

– Chính là mẹ con đó.

– À không! Đó là vợ con, đứa trẻ trả lời.

Sau đó một thời gian, một cơn viêm thanh quản rít diễn ra và những rối nhiễu trước kia quay trở lại. Tôi đồng ý gặp Paul.

Một đứa bé thấp người, gầy, nhưng sổng động; cặp mắt đen to tròn chiếm gần như hết khuôn mặt. Có thể thấy bên ngoài đây là một đứa trẻ lớn trước tuổi. Tôi gặp Paul cùng với mẹ và nói chuyện với em bằng ngôn ngữ của người lớn về những rối nhiễu thể lý mà em đang gặp phải. Tôi nhấn mạnh vào tình huống “đôi” đã xảy ra giữa em và mẹ. Tôi cũng lưu ý đến tính “bất tiện” đối với một đứa bé khi chưa có ngôn ngữ. Paul rời khỏi đầu gối mẹ, nhìn tôi đắm đuối và bắt đầu một tràng độc thoại mà tôi chẳng thể hiểu là em đang nói gì.

– Bà muốn nói hết những chuyện này với cha con, tôi nói với em.

– Không, không, Paul đáp trả, Paul mới là sếp bự.

Tôi trả lời em:

– Không, cha con mới là sếp bự. Mẹ Paul và Paul phải nghe cha ra lệnh.

– Không, không, Paul cự nự, mẹ hiền, Paul sếp bự của mẹ.

Buổi gặp gỡ sau đó (10 ngày sau), Paul đem đến cho tôi một lá thư của cha em, bằng một dáng bộ rất tự hào, trong đó có những lời cảm ơn gửi đến tôi vì ở Paul đã có một sự tiến bộ đáng ngạc nhiên trong ngôn ngữ. Paul đã bắt đầu đi mẫu giáo gần nhà. Paul liên tục nói với mẹ trước mặt tôi: “Paul là sếp bự, cha không được ra lệnh”. Đó là một trò chơi – ít nhất tôi nghĩ là vậy. Mẹ em kể cho tôi nghe về sự bỏ rơi khi em ra đời: “Tôi đã giao nó cho chị nó và các bà vú nuôi”. Paul tiếp lời: “Không ngủ là không ngoan”. tôi trả lời: “Không ngủ không phải là sai, nhưng nó không tiện”. Sau đó Paul nói với tôi một tràng những thứ gì đó mà tôi không hiếu lắm nhưng tôi vẫn ghi lại. Chúng tôi đồng thuận rằng chúng tôi không cần phải gặp nhau nữa, trừ khi người cha có một quyết định khác. Paul chưa tới 3 tuổi, được nhận vào trường mẫu giáo và bán trú ở đó…

Căn bệnh đã được Paul sử dụng như một dấu hiệu dùng để kêu gọi ham muốn của người mẹ, đằng sau tất cả những sự chăm sóc cơ thể. Paul đòi hỏi mẹ phải làm cho mình được đủ đầy, nhưng cùng lúc, với tư cách là một chủ thể, em cảm thấy bị mất quyền sở hữu. Trong mối quan hệ với mẹ, khi thì Paul định vị mình là “sếp bự” của mẹ, khi thì là một đứa con bị bệnh. Một mối dây nào đó đã được dệt ra thông qua sự đau đớn, bằng một mô thức ái kỷ. Paul đưa cho mẹ, …  điều làm em đau, kể từ cái ngày mà vị “bác sĩ” kia đã giải thích cho mẹ em về những bí ấn của sự cương cứng và cái cơn đau gây lo sợ kia. Từ lời nói đó, Paul đã nhận ra khả năng biến đổi một biểu hiện thể lý thành một căn bệnh. Điều có giá trị với Paul … là những thứ mà em có thể dựa vào đó để kêu gọi người mẹ […]. Hành vi thoái lùi của em có thể được xem như một phòng vệ chống lại lo hãi bị thiến tượng trưng. Bằng cách làm cho người cha can thiệp vào tình huống trong cuộc gặp gỡ phân tâm, tôi đã giúp Paul từng bước đối diện với những thử thách CEdipe. Ban đầu, em đáp trả bằng những phòng vệ cũ: “Mẹ là vợ con. Paul sếp bự của mẹ”. Tức là: tôi là và luôn là Paul, bạo chúa, người chủ của những ham muốn của mẹ. Bằng cách nói với em: “Không ngủ chẳng có gì liên quan đến việc ngoan hay không. Con ngủ cho con, không phải để làm vừa lòng mẹ”, tôi đặt chính tôi vào giữa mối quan hệ mẹ-con. Khi Paul thức dậy nửa đêm, cất lời gọi và người cha trả lời, Paul thấy mình đang sống trong một ngữ cảnh hoàn toàn khác so với mối quan hệ đôi mẹ-con. Chính từ sự can thiệp của người cha đó mà việc bước vào thế giới ngôn ngữ được mở ra. Ca này minh họa rõ sự cần thiết của những can thiệp phân tâm sớm trong một số trường hợp khẩn cấp ở trẻ nhỏ. Những biểu hiện tâm-thể thể hiện sự khó khăn, thậm chí bất khả trong việc chuyển tiếp từ lo hãi lên diễn đạt biểu tượng.

Nếu như Paul cứ mãi tiếp tục sống trong những lời nói của người mẹ mà trong đó không có một phần chỗ nào dành cho người cha, Paul sẽ chẳng bao giờ có thể định vị được mình trước các đối tượng của ham muốn vô thức. Điều mà Paul yêu cầu, thực ra, đó là sự cấm kỵ. Paul chỉ có thể dấn thân, đối mặt với sự thiến biểu tượng nếu như người mẹ cũng đã từng trải qua điều tương tự. Lời nói của vị bác sĩ “Thằng bé này sẽ phá bà nếu bà không phá nó trước” đã vô tình làm cho người mẹ bị kẹt lại trong những mô thức mang tính ái kỷ. …. Trong sự đối đầu mẹ-con này, hai đơn vị đồng nhất đụng độ nhau, gần giống như ca của Hans khi em nói về con hươu cao cổ to và con hươu bé… Chính sự can thiệp, bằng và trong lời nói của tôi, của một người cha sở hữu người mẹ đã giúp Paul tự định vị mình khác lúc trước. Con đường đi vào ngôn ngữ đã được mở ra thông qua sự thiến biểu tượng nơi người mẹ.

Những thông tin mà tôi góp nhặt được 6 năm sau đó đã cho tôi biết rằng Paul đã phát triển rất tốt, gần như là một thần đồng trong lớp, và những khó khăn về mặt tâm-thế gần như đã biến mất.

Những ca như ca của Paul được tìm thấy rất thường xuyên trong các cuộc thăm khám tâm thần. Lời nói của bác sĩ luôn có tính chất quyết định. Nó chính là kết quả của sự gặp gỡ giữa ham muốn của vị bác sĩ và lo hãi của phụ huynh. Trong ca của Paul, vị bác sĩ có lẽ đã cảm thấy bị đe dọa trong thâm tâm bởi hành vi giết chóc-tự tử ở đứa trẻ. Vị này đã tự phòng vệ bằng cách cổ súy cho vũ lực: kết quả là tất cả những mô thức ẩn dụ đã bị đóng kín, và thông qua đó, cánh cửa mở toang cho sự xuất hiện của triệu chứng.

Trích: Tài liệu tâm bệnh học, ThS. Lê Hoàng Thế Huy

This entry was posted in Nghệ thuật tư duy và Cơ chế vận hành tâm trí. Bookmark the permalink.