Ý nghĩa của hành vi tự sát của trẻ em và thanh thiếu niên

ROI LOAN HANH VI TU XAM HAI, TU SAT O TRE EM VA THANH THIEU NIEN

Định nghĩa

Tự sát là một hành vi tự xâm hại, là (đã) chết do cá nhân có hành vi cố ý gây ra để chống lại bản thân.

Tự sát không thành (Anh: parasuicide, attempted suicide; Pháp: parasuicide, tentative de suicide): theo Tổ chức Y tế Thế giới, tự sát không thành là hành vi không gây chết người mà một cá nhân đã cố ý thử hay gây hại cho bản thân hoặc uống một chất độc mạnh quá liều ghi trong đơn thuốc hay quá liều điều trị được thừa nhận chung.

Tự sát mạn tính là trường hợp người ta biết rõ rằng hậu quả hành vi của họ sẽ nguy hiểm đến tính mạng nhưng họ cứ sa đà nghiện ngập (rượu, ma túy), mắc bệnh AIDS hay không tuân thủ điều trị trong các trường hợp đái tháo đường, tăng huyết áp, béo phì.

Nghi ngờ tự sát là trường hợp có bằng chứng là chết do hành vi tự gây hại nhưng không có bằng chứng để kết luận là cố ý. Trường hợp này không xác định là tự sát, chỉ xác định là chết do tai nạn (accidental death).

Các hành vi tương đương tự sát gặp ở một số trẻ em và thanh thiếu niên có thiên hướng chịu tai nạn, bất chấp nguy hiểm. Ví dụ: thách nhau chơi các trò mạo hiểm như đi trên bờ vực, nhắm mắt đi ngang qua đường phố, đua mô tô trái phép, cố ý nhịn ăn kéo dài…

Tự sát ở trẻ em và thanh thiếu niên có nhiều ý nghĩa:

Trẻ em muốn né tránh hay chạy trốn một tình huống gây bực bội khó chịu, đôi khi chỉ là một việc có vẻ vô hại dưới con mắt của người lớn (bị điểm kém, bị trách mắng thông thường).

Tự sát là lời kêu gọi thể hiện ý muốn được quan tâm hay ý muốn tìm lại tình cảm đã bị mất (như trường hợp bị bỏ rơi, bị cho làm con nuôi).

Trẻ em muốn tự trừng phạt vì không phát triển tới thời kỳ ẩn tàng một cách êm ả và vẫn phải sống dưới sức ép của mặc cảm tội lỗi Odipe đầy lo âu. Trẻ em muốn thông qua tự sát để liên kết với một người thân mới bị chết hay huyễn tưởng là đã bị chết, hay phải nằm viện, phải ra đi (“liên minh kỳ ảo”).

Các biện pháp đề phòng

Đa số các vụ tự sát có thể đề phòng được với các biện pháp theo dõi quan sát tế nhị và sát sao, xử lý thích đáng và kịp thời. Người thân có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là nhận biết sớm các hành vi khác lạ nhỏ nhất của trẻ em và cho đi khám chuyên khoa tâm thần.

Đánh giá các nguy cơ tự sát

Điều quan trọng là phải khai thác tiền sử tâm lý và rối loạn tâm thần, các biểu hiện tâm lý và tâm thần hiện rõ và tiềm ẩn, ý tưởng tự sát, kế hoạch tự sát, hành vi tự sát. Đặc biệt chú ý phát hiện các hoang tưởng bị tội và ảo thanh mệnh lệnh thúc đẩy hành vi tự sát.

Theo dõi các sự kiên chỉ báo nguy cơ tự sát cao như bệnh nhân không còn dự định gì cho tương lai, đem cho tài sản cá nhân, viết thư tuyệt mệnh, viết chúc thư, mới trải nghiệm một đau buồn mất mát.

Nhà tâm lý lâm sàng và bác sỹ tâm thần cần giúp bệnh nhân hiểu rõ các khó khăn của họ và chấp nhận các biện pháp điều trị; tạo ra một môi trường an toàn, kiểm soát các phương tiện dùng để tự sát như: tích trữ thuốc, kiểm tra các vật sắc nhọn, vũ khí, dây thừng, không để chủ thể nằm một mình ở các tầng gác cao.

Giảm nỗi đau buồn về tâm lý bằng cách thay đổi môi trường stress, tranh thủ sự nâng đỡ của các thành viên gia đình, của bạn bè hay người thân thuộc.

Giúp bệnh nhân hiểu rằng họ có thể đã có một nỗi buồn chính đáng, mọi người xung quanh ai mà chẳng có những nỗi buồn riêng nhưng mỗi người đều đã có cách cách giải quyết vấn đề của mình có kết quả. Cần phải tìm ra một giải pháp tích cực cho vấn đề của mình.

Tạo ra một cách gì đó để thay thế tự sát: tìm một nguồn vui mới, một hoàn cảnh mới.

Điều trị

Tự sát thường xảy ra ở thanh thiếu niên đã lớn. Các biện pháp điều trị có thể như sau:

Các trường hợp sau đây cần có chỉ định nhập viện:

Có ý tưởng và hành vi tự sát; thiếu hệ thống nâng đỡ xã hội hiệu quả, tiền sử có hành vi xung động hay tự sát, có kế hoạch hay hành động tự sát.

Các biện pháp sau đây được áp dụng tùy theo chẩn đoán rối loạn và chẩn đoán nguyên nhân.

Liệu pháp hóa dược

Chỉ định (cho thanh thiếu niên) một trong các thuốc chống trầm cảm sau đây: anafranil 25mg, nội trú với liều 4-8 viên/ngày chia làm 2 lần; ngoại trú 2 – 4 viên mỗi ngày, chia làm 2 lần;

Amitriptylin 25mg nội trú 4 – 8 viôn mỗi ngày chia ra 2 lần; ngoại trú 1-4 viên mỗi ngày chia ra 2 lần.

Chú ý các thuốc chống trầm cảm chỉ phát huy tác dụng sau 2 tuần lễ kể từ khi bắt đầu dùng. Vì vậy, cho bệnh nhân dùng thuốc rồi vẫn phải có các biện pháp theo dõi nghiêm ngặt.

Trường hợp trầm cảm có hoang tưởng ảo giác: kết hợp một trong các thuốc trên với các thuốc chống loạn thần. Ví dụ cho Aminazin 25mg 2-8 viên/ngày chia 2 lần.

Liệu pháp sốc điện

Liệu pháp sốc điện còn gọi là liệu pháp gây co giật bằng điện, với một máy chuyên dụng tạo một dòng điện 110V cường độ rất thấp cho chạy qua não (với hai cực đặt ở hai bên thái dương) trong thời gian rất ngắn, gây một cơn co giật giống động kinh kéo dài khoảng 30- 40 giây, cơn co giật này có tác dụng gây biến đổi sinh học và làm giảm các xung động căng thẳng trong não. Liệu pháp này chỉ định cho một số trường hợp trầm cảm có ý định tự sát mãnh liệt đã được điều trị bằng các thuốc chống trầm cảm nhưng không có kết quả.

Liệu pháp tâm lý cá nhân, liệu pháp tâm lý nhóm và gia đình đều rất cần thiết để dự phòng cũng như điều trị các trường hợp tự sát.

Liệu pháp tâm lý nâng đỡ của chuyên gia tâm lý lâm sàng cũng như của bác sĩ tâm thần thể hiện ở sự quan tâm thấu cảm và khả năng làm dịu trạng thái đau khổ cao độ của người bệnh.

Các biện pháp nâng đỡ xã hội rất quan trọng, giúp giảm nhẹ các khó khăn trong các mối quan hệ gia đình, bạn bè và nhà trường trên cơ sở nắm vững các vấn đề của chủ thể.

Trích: Tâm bệnh học trẻ em và thanh thiếu niên (NXB Đại học Quốc gia, 2007) – Nguyễn Văn Siêm

This entry was posted in Các rối loạn khác, Sức khỏe tâm thần trong cuộc sống. Bookmark the permalink.