Nhân cách ám ảnh

Patrick Juignet, Psychisme, 2011.

Các rối nhiễu ám ảnh cưỡng bức không chỉ là các triệu chứng. Chúng có thể được bắt gặp trong mọi phạm vi của lĩnh vực tâm bệnh lý. Trong bài báo này, chúng ta không quan tâm đến các triệu chứng, mà đến nhân cách ám ảnh với tư cách là một trong số các nhân cách nhiễu tâm.

Nội dung

  • Lâm sàng
    • Thời thơ ấu
    • Tính cách
    • Hành vi
    • Ám ảnh
    • Các hành vi cưỡng bức
    • Tiến triển
  • Nhận định về lý thuyết
    • Sự thiến và Ơđip
    • Việc thoái lùi về giai đoạn hậu môn
    • Sự phòng vệ của cái tôi
    • Sự hình thành của triệu chứng
  1. Lâm sàng

Thời thơ ấu

Sự tồn tại của các nghi thức (ăn uống, ngủ) có thê thấy ở trẻ khoảng 3 tuổi và không được coi là tổ chức mang tính ám ảnh của nhân cách. Những biểu hiện về mặt tâm lý như vậy là rất khác nhau và ít đặc trưng. Các biểu hiện xuất hiện vào khoảng 6 hay 7 tuổi hoặc muộn hơn, vào cuối giai đoạn ẩn tàng. Các biểu hiện sớm thì khó để phân định bởi vì giai đoạn ẩn tàng bình thường là từ 6 tới 12 tuổi cũng xuất hiện sự kiểm soát, tính sạch sẽ, tính tỉ mỉ. Người ta nhận ra một số nghi thức (ngủ, ăn uống, tiểu tiện/đại tiện), một số ý tưởng mang tính ám ảnh (về cái chết). Những biểu hiện có thể khác nhau: cơ thể hóa, ám sợ, khó khăn trong chú ý. Người ta cũng nhận thấy những ám ảnh bền vững và khá đặc trưng (sợ bố hay mẹ chết) nhưng đôi khi cũng trôi qua mà không được nhận ra bởi vì trẻ không phàn nàn về điều đó.
Gia đình là truyền thống, nhưng có một nền giáo dục cứng nhắc và một mối quan hệ giữa mẹ và con trai được coi là đặc quyền. Sự nhút nhát, sự nghiêm túc của trẻ thể hiện trong mối quan hệ với bạn bè đôi khi là sự khó chịu. Đặc biệt, khó khăn của những trẻ này trong việc tự bảo vệ (trong tình huống ức chế những hung tính) đã cô lập trẻ với nhóm bạn và khiến chúng trở nên dễ bị tổn thương. Điều đó dẫn tới một hệ lụy thứ phát là sự khước từ việc tới trường bởi vì đứa trẻ chịu được khoảng cách với bạn bè hoặc chịu đựng một hay nhiều người bạn hung tính và bạo lực nào đó.
Toàn bộ những điều này tạo ra nét đặc trưng ở tuổi dậy thì. Người ta nhận thấy rằng, ở giai đoạn này, có sự quan tâm tới thế giới siêu hình và tôn giáo. Sự sùng đạo tương ứng với những thái độ chu đáo, với sự cứng nhắc trong hành vi và các nguyên tắc được thiết lập. Kết quả học tập có thể

Tính cách

Ở tuổi trưởng thành, tính cách hình thành. Khoảng cách lịch sự là một nét ám ảnh. Tính cách được bộc lộ dưới một thái độ có chút cứng nhắc và khuôn mẫu, với một kiểu trung tính về cảm xúc. Người ám ảnh thường có vẻ lạnh lùng, khoảng cách và cứng nhắc. Họ có đầu óc thủ cựu và không có sự hân hoan. Họ bướng bỉnh, họ theo đuổi mục đích của họ với sự ngoan cố bởi vì họ có khó khăn trong việc từ bỏ, trong việc thay đổi, hay trong việc chia ly. Họ là người hà tiện và thích tích góp, sưu tập. Nhưng đôi khi cũng có sự hoang phí hiếm hoi một cách ngược đời.

Sự hung tính nói chung là bị ức chế nên không bộc lộ một cách trực tiếp. Ngược lại, có thể nhận ra sự hung tính trong sự quanh co và hung tính thể hiện xu hướng kiếm chuyện, cà khịa, làm người khác chán ngấy, đưa ra những hành vi lạc nhịp giống như sự duy trì một “góc bẩn” và lộn xộn, sự chậm trễ lặp đi lặp lại, ác dâm đối với con vật, vân vân. Đôi khi, hung tính thể hiện theo cách trực tiếp bởi sự cục cằn, thô lỗ, sự chống đối lại quyền lực. Những thái độ này đối ngược với vẻ ngoài thường thấy của chủ thể. Người ta còn nhận ra một xu hướng làm người khác bực mình, làm người khác chịu đựng. Ở đàn ông, người ta nhận ra những nét nữ tính, thái độ kiểu cách.

Người ám ảnh có những nghi ngờ, những cơn khủng hoảng về nhận thức, thái độ dò xét, sự ức chế tính dục.

Những nét tính cách khác nhau này đan xen và thể hiện một cách khác nhau tùy mỗi chủ thể. Đôi khi rất rõ về xu hướng ức chế, lịch sự, khúm núm, kiểu cách. Đôi khi thiên về hướng năng động mang tính ác dâm, bẩn, thô tục.

Các hành vi

Người ám ảnh là người có hiệu quả nhờ vào sự chính xác của họ, sự đúng giờ, sự khăng khăng bảo thủ. Tính hiệu quả này cũng giảm thậm chí mất hiệu lực khi có một sự cực đoan về sự tỉ mỉ và sự nghi ngờ. Họ gia nhập xã hội bình thường. Đối diện với người khác, họ không thể hiện sự quyến rũ, mà là khoảng cách, một sự thu rút, họ khó khăn trong việc cam kết về một kế hoạch tình bạn hay tình yêu, họ lưỡng lự rất nhiều. Ngược lại, họ bền bỉ và trung thành.

Tính dục mang tính nghi thức và nghèo nàn với những huyễn tưởng loạn dâm kiểu khổ dâm, đồng tính. Nói chung, có một sự không tự hiểu về trạng thái của họ và cách thức quan hệ mà họ thiết lập. Họ sống trong sự hợp lý hóa và những tư duy của họ về bản thân mình và những người khác. Sự mất cân bằng có liên quan đến trầm cảm và những triệu chứng được nhận thấy như là bệnh lý.

Những ám ảnh

Thuật ngữ ám ảnh đến từ gốc latinh, obsidere có nghĩa là vây hãm. Một sự trí thức hóa không tự nguyện dai dẳng và áp đặt bất chấp các cố gắng để đẩy nó ra. Một tư tưởng trìu tượng, những con số, những hình ảnh khó chịu, một đồ vật hay một kế hoạch về một kịch bản nào đó (bị chuột ăn thịt).

Các ám ảnh thường có mối liên quan với sự mất mát. Những tính chất về mặt tư duy này là không thể đánh đuổi đi, nhưng nó gây nên nỗi lo âu đáng kể. Không thể nào né tránh được. Trong số những ám ảnh điển hình nhất có thể kể ra các ám ảnh cưỡng bức nhằm vào nỗi sợ hãi khiến có một hành động như là tấn công, lăng mạ, nói bậy, phạm tội.

Các hành vi có tính cưỡng bức

Đó là các hành vi mà bệnh nhân cảm thấy bị bắt ép phải thực hiện. Thuật ngữ cướng bức đến từ ngôn ngữ latin cumpulsum có nghĩa là cưỡng ép. Những hành động này tới như một sự bắt ép, điều gì đó trấn áp. Người ta nhận thấy những nghi thức, là những thao tác lặp đi lặp lại, đôi khi dưới hình thức tự nguyện, tuy nhiên là những hành động không thể kìm nén được.

Các hành động này có sự diễn tiến tương tự nhau, và được gọi là lặp đi lặp lại. Các hành động đó nhằm làm dịu đi sự có mặt của các ám ảnh hoặc/và để chống lại các ám ảnh đó. Những nghi thức có thể là về mặt tâm thần: học thuộc lòng một đoạn từ ngữ, câu nói, hay chữ số; hoặc về mặt hành vi: các hành vi kiểm tra, xác nhận. Các tic cũng là các hành vi giảm bớt ám ảnh và được tự động hóa.

Diễn tiến

Người ám ảnh có thể ở trong trạng thái đó lâu dài. Họ sống trong sự hợp lý hóa, và các ý nghĩ của riêng họ về bản thân mình và về những người khác. Một sự mất cân bằng mang tính trầm uất có thể đến cấp tính khi hệ thống phòng vệ đổ vỡ, sau những sự kiện quan trọng trong cuộc sống (chuyển nhà, mất mát tình cảm, cái chết của người thân). Những trạng thái trầm uất đó được nhìn nhận như bệnh lý và cần được chăm sóc.

Khi về già, người ta vẫn chịu sự gia tăng các ám ảnh. Nó trở nên mạnh hơn và bao vây người bệnh. Trước các hệ quả đáng tiếc (mất tính hiệu quả, nguy cơ bị người khác khám phá), nỗi lo hãi ra đời và chủ thể nghiêng về hướng chấp nhận những nét bệnh lý của các triệu chứng của họ. Chủ thể có xu hướng khiến cho cuộc sống của mình bảo thủ hơn và sáo rỗng hơn, mặc cho điều đó lại khiến họ lo hãi hơn nữa, xu hướng trầm cảm có thể hình thành từ những sự kiện gây kiệt sức hàng ngày.

  1. Nhận định về lý thuyết

Ở người ám ảnh, những hiệu ứng liên hợp chống lại các xu hướng ơ đip và tính mờ nhạt của giai đoạn dương vật, đã tạo điều kiện thuận lợi cho một tình trạng tù hãm và sự thoái lùi về giai đoạn hậu môn.

Sự thiến và ơ đip

 Ở thời thơ ấu, các mối liên hệ tích cực với bố mẹ cùng giới tính không đủ đã không cho phép sự hình thành thuận lợi tính ghen tuông được gây ra bởi tình huống ơ đip. Nói chung, người ta nhận thấy một người mẹ quá nhiều tình yêu với đứa con trai và một người cha thường vắng mặt hay xa cách. Cái nỗi giận/ghét đối với người cha gây nên một lo hãi (được gọi là lo hãi sợ thiến), điều này giải thích cho việc người nhiễu tâm ám ảnh thường là nam giới. Theo một khuôn mẫu kinh điển, người ám ảnh là “đứa con trai được quá yêu thương bởi một người mẹ không thỏa mãn”. Sự đồng nhất với người cha bị giảm bớt phần nào, và hình ảnh của người cha đối với đứa trẻ là khiếp sợ. Sự thất bại một phần của ơ đip cũng dẫn tới xu hướng nữ tính và đồng tính, mặc dù có thế những xu hướng đó bị dồn nén. Và rồi một cảm giác tội lỗi tồn tại dai dẳng, từ sự kiện về quan hệ có tính loạn luân trong vô thức.

Sự thoái lùi về giai đoạn hậu môn

Sự thoái lùi về giai đoạn hậu môn ngấm vào toàn bộ nhân cách, hoặc là trực tiếp, hoặc là gián tiếp thông qua việc đấu tranh của chủ thể. Sự thoái lùi này tạo nên sự phái sinh tới ý tưởng loạn luân, nhưng bản thân giai đoạn hậu môn cũng có sự xung đột. Những xung năng libido (dục năng) nhằm vào việc đại tiện, và xung năng tấn công bị gia tăng bởi xung đột riêng của giai đoạn này. Cấu trúc huyễn tưởng của người ám ảnh đến từ sự đồng hóa của 4 kiểu hành động: tấn công, diễn trò – thao túng, làm chủ, sở hữu, 4 kiểu hành động này tồn tại dưới dạng đảo ngược của nó (bị tấn công, bị diễn trò – thao túng, bị người khác làm chủ, bị sở hữu). Các hành động ấy được sắp xếp theo 2 hệ thống chính: chủ động/bị động và khổ dâm/ác dâm.

Giai đoạn hậu môn gây ra sự kịch phát và nhập nhằng giữa các xung năng tấn công và libido (dục năng). Cấu trúc huyễn tưởng gây nên sự lẫn lộn, khổ/ác dâm, một sự luân phiên giữa việc giữ lại và việc đẩy ra, và một sự thu hút tới sản phẩm của mình (phân) hay sự khước từ, chối bỏ. Đối tượng tính dục được che đậy. Kết quả là: tầm quan trọng của các xung năng tấn công, việc hướng tới hậu môn của các xung năng libido, và sự chống lại các xu hướng này bởi cái Siêu tôi và cái tôi. Phần lớn các nét tính cách và triệu chứng là kết quả trực tiếp của xung đột này.

Sự phòng vệ của cái tôi

Cấu trúc tâm trí với cái tôi rất năng động và sử dụng nhiều cơ chế phòng vệ. Ngoài dồn nén, người ta nhận thấy ở người ám ảnh những phức cảm về phương thức, giống như phản ứng ngược, hủy bỏ, cô lập, né tránh mang tính phòng ngừa.

Phản ứng ngược là xu hướng trái ngược với cái mà chủ thể muốn bỏ, muốn tránh. Cơ chế này dẫn tới một sự đầu tư toàn bộ những khía cạnh khác nhau: thái độ, nhận thức, giá trị, để chống lại sự cân bằng các mặt của tổ chức xung năng bị cái Siêu tôi chối bỏ. Phản ứng ngược là một phương thức rất hiệu quả về mặt ý thức, nó hoàn thành sự dồn nén. Cái đại diện cho xung năng bị ruồng bỏ, cả sự không thừa nhận có liên quan đến cái đại diện ấy, đều bị dồn nén và sự đầu tư tập trung vào những điều khó chịu ngược lại. Hình thành cái thay thế (với sự giúp đỡ của một xung năng tương đương) và hình thành nên một thỏa hiệp (cho phép thỏa mãn xung năng), hai sự hình thành đó được trộn lẫn với phản ứng ngược.

Các nét tính cách là kết quả của phản ứng ngược thế vào chỗ để chống lại khổ dâm ở giai đoạn hậu môn. Như vậy, xu hướng làm bẩn được thay thế bởi một xu hướng sạch sẽ, bằng xu hướng tỉ mỉ, cẩn thận. Khổ dâm và tàn ác được thay thế bằng sự dịu dàng, sự tôn trọng, lòng thương hại, lòng từ thiện. Sự chuyển dịch rất thường được sử dụng, và như vậy, sự giữ lại, được thay thế bằng việc sưu tập hay tính hà tiện

Sự né tránh, nhằm ngăn cản bất kỳ một sự trí thức hóa nào, sự xóa bỏ cái trước cho phép chủ thể tin rằng chẳng có điều gì xảy ra cả, cũng được sử dụng. Trong số các cơ chế, những cơ chế được sử dụng nhằm đạt được sự ức chế bất kỳ một sự chuyển động tâm trí nào, hoặc là trực tiếp (như dồn nén, cô lập), hoặc là bãi bỏ những điều có thể gợi nên những xung năng đó, bằng cách gián tiếp (né tránh có tính cảnh báo, hủy bỏ), hoặc trên bình diện về môi trường (một cuộc sống nề nếp hoặc nghi thức hóa). Một số lượng triệu chứng (các nghi thức, các hành vi cưỡng bức) không đươc gọi là cơ chế phòng vệ, xong cũng giữ vai trò bảo vệ chủ thể. Ở người ám ảnh, cái Tôi đi trước cái Siêu tôi và giữ vai trò quan trọng trong việc chống lại cái Nó. Cái Tôi đóng vai trò thanh chắn đường để chắn tổ chức xung năng thúc đẩy bộc lộ bằng các hành vi hoặc trong tâm trí. Cái Tôi cũng tránh một xung đột trực tiếp giữa cái Nó và cái Siêu tôi.

Hình thành triệu chứng

Các triệu chứng khác nhau, các thể hiện ám ảnh và các hành vi bị thúc đẩy, có chung cách giải thích về mặt tâm bệnh học. Những triệu chứng này cho phép tổ chức xung năng vận hành theo nguyên tắc khoái lạc, kể cả nếu không có sự thỏa mãn trực tiếp được cảm nhận. Các xung năng được tổ chức xung quanh các thể hiện khổ dâm – hậu môn. Một mối liên quan được thiết lập giữa tính dục của người trưởng thành và hình thức thoái lùi, mối liên quan đó mang lại lực xung năng lớn hơn. Có thể nói, với Freud, “thói thủ dâm bị trấn áp giống như hình thức của các hành vi cưỡng bức, một cách mang lại sự thỏa mãn không ngừng”. Hình thức hay các triệu chứng cưỡng bức được coi là gợi nhớ; sau một sự chối bỏ hay một giai đoạn yên bình, thì những triệu chứng lại trở nên không thể kìm nén được. Sau khi đã được thực thi (các triệu chứng cưỡng bức), thì tiếp đến là sự thỏa mãn dưới dạng một sự xoa dịu. Sự tuần tự này rất điển hình của một sự thúc đẩy xung năng. Sự dồn nén, chuyển hoán, hay chuyển dịch của vấn đề hậu môn hay tấn công đưa đến những kiểu ám ảnh và cưỡng bức khác nhau.

Nếu người ta đi sâu hơn vào chi tiết, việc giải thích các ám ảnh và các hành vi cưỡng bức sẽ cụ thể hơn tùy vào mỗi trường hợp.

Lưu ý của người dịch: để hiểu hơn về bài viết này, bạn đọc tìm hiểu thêm về 5 giai đoạn phát triển tâm tính dục của Freud, các cơ chế phòng vệ của vô thức và các khái niệm có liên quan khác của Phân tâm học.

Ngô Thị Thu Huyền, dịch từ nguồn: http://www.psychisme.org/Clinique/Obsession.html

This entry was posted in Nghệ thuật tư duy và Cơ chế vận hành tâm trí. Bookmark the permalink.