Nhân cách ranh giới (còn được gọi là trạng thái giới hạn) phần 1

 Patrick Juignet, Psychisme, 2011.

Việc gọi là nhân cách ranh giới vẫn còn nhiều điều để thảo luận, chúng ta sẽ xem xét các dạng lâm sàng của phạm vi trung gian (giữa nhiễu tâm và loạn tâm). Các đặc điểm lâm sàng biến đổi tùy theo mức độ của sự thất bại mang tính ái kỷ và những cơ chế phòng vệ cho phép chủ thể cân bằng. Chúng ta bắt đầu bằng một khuôn dạng trung tính rất đặc trưng, mà chúng ta gọi là khuôn dạng trung bình điển hình. Việc đặt tên “trạng thái giới hạn” hẳn bao gồm các nét tổng hợp, bởi vì đó không phải là một trạng thái nhất thời hay quá độ, mà đó là một tổ chức vững bền của nhân cách. Trong lĩnh vực trung gian rộng này, các biên giới với các nhân cách gần gũi là rất mờ nhạt.

Chúng ta sẽ xem xét lần lượt

  1. Nhân cách ranh giới: dạng trung bình
  2. Nhân cách ranh giới: dạng tâm bệnh
  3. Nhân cách ranh giới: dạng ích kỷ

Nhân cách ranh giới: dạng trung bình điển hình

Nội dung

  • Lâm sàng
    • Tuổi thơ
    • Tính cách
    • Chịu đựng trầm cảm và lo hãi
    • Hành vi đặc trưng
    • Kiểu mối quan hệ
    • Tiến triển
  • Nhận định về mặt lý thuyết
    • Tổn thương ái kỷ
    • Nguyên nhân của những thất bại
    • Sợ chất độc và sự lệ thuộc
    • Mối quan hệ đối tượng

Lâm sàng

Thời thơ ấu

Những dấu hiệu chịu đựng xuất hiện khá sớm, nhưng không đáng lưu ý lắm. Đứa trẻ thể hiện các lo hãi về chia ly đặc trưng, bộc lộ ở khoảng 3 hay 4 tuổi. Những lo hãi đó được hiểu như một rối loạn, thậm chí ngất đi, hay một sự lo âu đi kèm thể chất (nôn, đau bụng, són tiểu, ị đùn). Những triệu chứng này xuất hiện khi đứa trẻ chia tách với gia đình, ngay cả khi trong thời gian khá ngắn.

Sau đó, các rối loạn về hành vi xuất hiện dưới dạng một sự luân phiên giữa giai đoạn yên bình và giai đoạn bất ổn và hung tính. Giai đoạn trầm cảm được hiểu là sự buồn chán, sự mất đầu tư nói chung, sự bất hoạt động.  Ở một số trẻ, người ta tìm thấy sự ức chế có liên quan đến sự phụ thuộc vào người lớn. Việc không được người lớn thừa nhận khiến đứa trẻ lánh mình vào sự trống rỗng và ức chế. Ở nhiều trẻ khác, những rối nhiễu về tính cách xuất hiện, có liên quan đến hung tính và thái độ khiêu khích, khiến cho những người xung quanh bối rối và không hài lòng.

Người ta chú ý rằng một sự chưa trưởng thành trong mối quan hệ với bạn bè cùng trang lứa, những khó khăn trong học tập có nguyên nhân từ những cảm giác thấp kém, sự nhút nhát, thiếu an toàn, những điều đó khiến trẻ cảm thấy việc bộc lộ mình trước lớp là kinh khủng. Nguy cơ bị phãn xét tiêu cực dẫn tới những hành vi bị ức chế và thất bại. Mặc dù vậy không có rối nhiễu về mặt tư duy.

Gia đình, đặc biệt là người mẹ, không làm an tâm đứa con, hoặc là để con một mình với những rối loạn, hoặc là bao bọc quá, hoặc là luân phiên giữa 2 trạng huống đó. Người ta cũng nhận thấy những đứa trẻ bị chia cách với cha mẹ, con nuôi, hoặc để ông bà nuôi.

Tính cách

Chủ thể khá dễ chịu và duyên dáng, chủ thể tìm kiếm các giao tiếp, nhưng khí sắc thì thay đổi và mối quan hệ cũng ảnh hưởng nhanh chóng và bị ngắt. Chủ thể luôn khá bốc đồng, thiếu sự tiết chế, làm chủ. Suy nghĩ không điều tiết được phản ứng. Cơn giận dữ và hung tính tới dễ dàng và chuyển sang hành động bạo lực là những nét mô hình của khuôn dạng trung bình. Trong tình cảm, trong cuộc sống, chủ thể dao động ở 2 cực: hoặc là tất cả hoặc là không là gì, hoàn hảo hoặc là không, phấn khích hoặc buồn chán.

Đối với các chủ thể này, tồn tại nguy cơ hạ thấp giá trị dẫn đến sự nhạy cảm đối với tình huống bất ngờ trong cuộc sống thông thường được ngụy trang. Điều đó dẫn tới thái độ có vẻ bên ngoài tỏ ra điệu bộ, yêng hùng.

Chủ thể tin là buộc phải chọn lựa giữa các ý kiến cực đoan, không chịu được những thỏa hiệp. Chủ thể đưa ra những mục tiêu rất cao, những mục đích ảo. Về mặt xã hội và quan hệ, chủ thể chịu cái nhìn xấu, một ngày nào đó, bởi vì chủ thể tỏ ra nguy hiểm và thù địch. Chủ thể cảm thấy mình là nạn nhân của xã hội, của những người khác, của thế giới nói chung, dường như cả thế giới mang tới khó khăn cho họ.

Người ta nhận thấy sự phụ thuộc vào người khác, nhất là vào sự phán xét mà chủ thế phản ứng rất mạnh và thay đổi khí sắc rất nhanh. Họ cảm thấy khó khăn khi xác định vấn đề của họ trong các đầu tư và các lựa chọn của họ (giá trị). Họ có sự không chắc chắn liên quan đến giới tính tình dục khiến có thể dẫn tới lưỡng tính.

Chịu đựng trầm cảm và lo hãi

Trầm cảm thường đến, che phủ dưới dạng khá đặc biệt. Triệu chứng cơ bản với các mức độ khác nhau, đôi khi mờ nhạt, đôi khi rõ ràng. Nhưng luôn có mặt những đặc điểm điển hình:

  • Chủ thể có cảm giác thiếu hụt, cô đơn, kèm theo cảm giác trống rỗng và hun hút trong cả tinh thần và cơ thể.
  • Chủ thể cảm thấy bị lạc, bị bỏ rơi, không có khả năng sống, cảm thấy mình chẳng là gì, không có giá trị gì
  • Tri thức hóa nghèo nàn và chủ thể khó khăn trong việc diễn đạt vấn đề của mình và không mong muốn được giúp đỡ. Có sự tương phản giữa sự phong phú, giàu có bên trong với sự nghèo nàn trong biểu lộ.

Nỗi lo âu thể hiện dưới dạng những cơn khủng hoảng cấp. Nói chung không có lo hãi mãn tính. Nó không đặc trưng.

Những hành vi đặc trưng

Sự thất bại: đó là những giai đoạn khác nhau, giới hạn trong mức độ trầm trọng của họ và thời gian bị ngắt quãng với thích nghi xã hội. Giai đoạn ảo tưởng có liên quan tới ảo tưởng của giác quan với sự mất khả năng phân biệt tưởng tượng và thực tế. Suy nghĩ mang tính tưởng tượng có ở trong thực tế (đồ vật bị vỡ, bóng ma, con vật to chui ra khỏi tủ, trộm chui vào phòng). Thường thì giai đoạn này đến tự nhiên. Chúng được tạo điều kiện thêm bởi cảm giác cô độc, giấc ngủ, chất độc (chất gây nghiện). Những giai đoạn của việc hợp lý hóa dẫn chủ thể tới việc giả logic, để chứng minh ý kiến của họ. Những gợi  ý được tiếp nhận, sự phán xét bị chối bỏ, suy nghĩ tập trung vào những kịch bản tưởng tượng. Chủ thể rơi vào trạng huống quay cuồng mà không thể làm chủ được, nhưng cũng sẽ biến mất tự nhiên vào một thời điểm nào đó. Các giai đoạn tách rời xã hội thể hiện ở những khía cạnh khác nhau. Có thể là sự nghỉ việc trước những khó khăn, từ bỏ vai trò hoặc nếu có cơ hội, có thể lừa đảo, trộm cắp. Sự tôn trọng các quy tắc đột nhiên biến mất, điều đó tạo điều kiện cho sự ngắt quãng việc gia nhập xã hội: thất bại trong công việc hoặc học tập, sa thải công việc, bất hòa với xung quanh.

Chuyển sang hành động là một xu hướng thường thấy. Chuyển sang hành động có liên quan tới mức độ tri thức hóa và sự khoan dung đối với việc mất mát, tổn thương. Nó hình thành ở dạng trung bình này. Trên bình diện tình dục, người ta nhận ra sự vắng mặt của ức chế. Ngược lại, sự không chắc chắn trong sự biệt hóa giới tính và những có khăn có nguồn gốc từ sự thiếu an toàn, dẫn tới nhiều vấn đề khác nhau. Thường xuyên ở họ có sự thiếu hụt về ham muốn và xu hướng hợp nhất. Các hoạt động nói chung bị hạn chế ở một số lĩnh vực bởi nó khiến chủ thể chịu đựng rủi ro thất bại. Trong một số trường hợp, các hoạt động ít bởi vì chủ thể chịu đựng sự mất đầu tư nói chung đối với thế giới.

Hành vi nghiện có liên quan tới ăn uống, rượu, thuốc lá, hé rô in. Nếu người ta phân biệt toxicophilie (tìm kiếm các sản phẩm có hiệu ứng tâm trí) và nghiện (với sự lệ thuộc và trò chơi với sự lệ thuộc), và dạng trung bình thường gặp ở toxicophilie. Việc sử dụng các sản phẩm để chống lại trầm cảm gây nên bởi những thất bại. Nó đi kèm với chiều kích loạn dâm thích đau liên quan đến việc tự làm đau mình. Những hành vi nguy cơ là thường diễn ra và dẫn tới các tai nạn, đau ốm, đôi khi là cái chết.

Các kiểu quan hệ điển hình

Mối quan hệ bạn bè mang tính tức thời, không bền chặt. Trong trường hợp có vấn đề, sự nghi ngờ đến rất nhanh, hung tính, ghen tị, thù địch, các cảm giác bị hại. Không có hoặc có ít nguyên tắc để giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ. Cần phải “làm hàng” để không mất mặt. Chủ thể sẵn sàng thách thức các nguy hiểm. Do ít nhậy cảm với cái tốt, cái xấu, chủ thể thường sắp xếp mọi thứ thành 2 loại.

Mối quan hệ tình yêu giống như kéo đàn. Bởi vì đối tượng yêu được cảm nhận một cách khác nhau, luân phiên rất nhanh. Lúc thì rất tốt, lúc thì rất xấu và độc ác. Họ tìm kiếm một sự đồng thuận không thay đổi, và một sự lệ thuộc.  Khoảng cách khiến họ rất khó sống. Có một nỗi sợ bị bỏ rơi đôi khi gây nên sự ngắt quãng trước. Tất cả các yếu tố này khiến cho mối quan hệ luân phiên ngắt quãng / nối lại.

Chủ thể khó khăn thậm chí không thẻ trong việc sống một mình và luôn tìm kiếm bạn đồng hành, băng, nhóm. Liên quan tới mối quan hệ, khi không có sự đe dọa nào tới ái kỷ chủ thể vẫn thích nghi rất tốt và cảm thấy mọi chuyện tốt.

Tiến triển

Theo thời gian, nói chung là có sự ổn định lại những khía cạnh khó khăn. Ngược lại, vào tuổi trung niên, có sự khó khăn khi phải đối diện với những khó khăn liên quan đến trách nhiệm. Những thất bại rất khó được chấp nhận bởi những người xung quanh và do vậy hậu quả nặng nề hơn. Chủ thể không thể khiến cho mối quan hệ đôi lứa trở nên ổn đinh, nên cảm thấy cô đơn và dễ có xu hướng lạm dụng rượu. Chủ thể tiêu tốn cho chất gây nghiện, cho bệnh tật, cho tai nạn, cho bạo lực và có thể thành công trong việc tự tử.

Ngô Thị Thu Huyền, tham khảo nguồn: http://www.psychisme.org/Clinique/LimiteM.html

This entry was posted in Nghệ thuật tư duy và Cơ chế vận hành tâm trí. Bookmark the permalink.