LỚN LÊN TRONG ĐAU KHỔ – ĐAU KHỔ GIÚP LỚN LÊN

LỚN LÊN TRONG ĐAU KHỔ

Khi chúng ta bị đuổi ra khỏi Vườn Ê-đen, chúng ta bị đuổi mãi mãi. Chúng ta không bao giờ có thể trở lại Ê-đen. Chuyện kể rằng cổng vườn bị chặn lại bởi các kê-ru-bim và một thanh gươm lửa.

Chúng ta không thể quay về. Chúng ta chỉ có thể đi về phía trước mà thôi.

Quay về Ê-đen cũng giống như cố gắng quay về với cung lòng mẹ, về với thuở còn là em bé, còn là bào thai. Không thể quay về như vậy, chúng ta chỉ còn có một cách là lớn lên. Chúng ta chỉ có thể đi về phía trước, xuyên qua sa mạc cuộc đời, tự mở lối cho mình trong khổ đau, đi qua những dặm đường khô cằn nứt nẻ để đạt tới những cấp độ ý thức ngày càng sâu hơn.

Đây là một sự thật vô cùng quan trọng, vì rất nhiều tâm bệnh của con người, kể cả chứng lạm dụng ma túy, đều xuất phát từ cố gắng muốn trở về Ê-đen. Tại các bữa tiệc rượu, chúng ta thường có khuynh hướng cần ít nhất một ly để giúp làm giảm bớt cái ý thức về mình của chúng ta, giúp xua đi bớt sự xấu hổ nơi ta. Ly rượu ấy thường hoàn thành tốt nhiệm vụ của nó, phải không? Về rượu, bia, cô ca hoặc một hỗn hợp nào đó tương tự, nếu chúng ta dùng đúng lượng phù hợp, chúng ta có thể tạm thời lấy lại được cảm thức thống nhất với tự nhiên mà mình đã đánh mất. Chúng ta có thể cảm thấy thoải mái, tự nhiên: một cảm giác ấm áp, ngất ngây, bềnh bồng…

Dĩ nhiên, cảm giác ấy không bao giờ kéo dài lâu, và cái giá mà người ta phải trả cho nó thường quá đắt. Vì thế, thần thoại kia quả đúng thực. Chúng ta thực sự không thể trở lại Ê-đen. Chúng ta phải tiến về phía trước xuyên qua sa mạc. Và đây là một hành trình đầy gai góc, bởi vì ý thức thường gắn liền với nỗi đau. Đa số người ta ngưng cuộc hành trình sớm hết sức có thể. Họ tìm thấy một nơi chốn nào đó có vẻ an toàn, một cái hang được moi trong cát, và họ dừng lại đó thay vì tiếp bước xuyên qua sa mạc khổ đau, sa mạc của những chông gai và sỏi đá.

Ngay cả dù phần đông chúng ta đều đã từng cảm nghiệm được rằng “những gì gây đau đớn cho mình đều giúp dạy khôn mình” (2), thì bài học của sa mạc cuộc đời vẫn đầy đắng cay đến nỗi chúng ta muốn chôn chân lại thay vì bước tới.

Già nua không phải chỉ đơn thuần là một rối loạn sinh học. Nó cũng có thể là biểu hiện của thái độ từ chối lớn lên. Sự từ chối này là một rối loạn tâm lý có thể đề phòng được bởi bất cứ ai dấn bước vào cuộc hành trình trưởng thành tâm lý và tâm linh không ngừng suốt cuộc sống. Những ai ngừng học hỏi, ngừng lớn lên, ngừng thay đổi và trở thành chai cứng … thường sa vào cái đôi khi được gọi là “tình trạng trẻ con lần thứ hai” của họ. Họ ích kỷ, họ vùng vằng đòi hỏi. Kỳ thực đấy không phải vì họ đã đi vào “tình trạng trẻ con lần thứ hai”; đúng hơn, đấy bởi vì họ chưa bao giờ bước ra khỏi tình trạng trẻ con lần thứ nhất của họ. Họ chỉ có cái ‘mã’ người lớn, còn thực chất họ chỉ là một đứa con nít không hơn không kém.

Đó là một thực tế mà giới bác sĩ tâm thần chúng tôi thường xuyên gặp thấy. Song nói thế không có nghĩa rằng những người đến với chúng tôi thì ấu trĩ hơn bao người khác. Trái lại, những người đến với tâm lý trị liệu với ý hướng chân thực muốn lớn lên là thuộc số tương đối ít những người được mời gọi bứt ra khỏi tình trạng ấu trĩ. Họ là những người không còn chịu đựng được tình trạng ấu trĩ của mình, mặc dù có thể họ chưa nhìn thấy được đâu là ngõ thoát. Số đông còn lại của chúng ta không bao giờ lớn lên được trọn vẹn, và có lẽ chính vì lý do này mà người ta rất ghét bàn về việc lớn lên.

Tháng giêng 1980, vừa sau khi tôi viết Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi, một quyển sách xoáy vào chủ đề lớn lên, tôi được nhiều đài phát thanh và truyền hình ở Washington, D.C. mời tới trong khuôn khổ một đợt giới thiệu sách. Một tài xế taxi đưa tôi đi. Sau khi ghé lại vài đài như thế, anh tài xế hỏi tôi: “Bác đang làm gì thế hở?” Tôi cho anh biết là tôi đang giới thiệu một quyển sách. Anh hỏi: “Sách nói về cái gì vậy?”

Tôi bắt đầu loay hoay giải thích cho anh rằng quyển sách nói về sự hòa hợp giữa tâm thần học và tín ngưỡng. Anh gật gật đầu, rồi nói tỉnh queo: “Chà, quyển sách của bác nghe như có vẻ bàn chuyện hốt cứt.”

Anh chàng tài xế ấy quả có tài biện phân. Vì thế, tại cuộc nói chuyện trên tivi tiếp sau đó, tôi gợi ý kể lại câu chuyện ấy cho khán giả. Những người phụ trách ở đài truyền hình không đồng ý. Tôi đề nghị đổi ‘cứt’ thành ‘đồ thối’, nghĩ rằng tiếng ‘cứt’ nghe hơi nhớp nhúa, dễ khiến người ta dị ứng. Nhưng họ vẫn bác bỏ đề nghị của tôi.

Thế đấy, người ta không muốn nói chuyện về sự trưởng thành đích thực. Vì đó là điều gây quá nhiều đớn đau cho họ.

ĐAU KHỔ GIÚP LỚN LÊN

Nếu tôi thích nói chuyện về các nỗi đau, thì đấy không phải bởi vì tôi là một kẻ mắc chứng khoái khổ (masochism). Trái lại, tôi hoàn toàn chẳng thấy gì hay ho trong những nỗi khổ không có giá trị xây dựng. Giả tỷ tôi bị nhức đầu, việc đầu tiên tôi sẽ làm là mở tủ thuốc, lấy và uống hai viên Tylenol – loại viên trần cực mạnh. Bởi tôi không thấy gì hay ho trong một cơn nhức đầu thông thường.

Nhưng, có những nỗi khổ có tính xây dựng. Và để đương đầu với những nỗi đau gắn liền với việc lớn lên, một trong những điều quan trọng nhất mà chúng ta phải học là nhận ra sự khác biệt giữa những nỗi khổ có tính xây dựng và những nỗi khổ không có tính xây dựng.

Những nỗi khổ không có tính xây dựng, chẳng hạn những cơn nhức đầu, là cái mà bạn phải thanh toán dứt điểm. Còn những nỗi khổ có tính xây dựng thì bạn cần biết gánh lấy và đi qua nó.

Ứng với hai loại nỗi khổ trên, tôi thích dùng hai thuật ngữ “nỗi khổ thần kinh loạn” và “nỗi khổ tự nhiên” – và chính đây là ví dụ để minh họa cho sự phân biệt ấy của tôi. Hẳn bạn không quên rằng cách đây khoảng 40 năm, khi các lý thuyết của Freud lần đầu tiên được truyền bá trong giới trí thức và thường bị diễn dịch sai lạc, thì có rất nhiều bậc phụ huynh do nghe nói rằng mặc cảm tội lỗi có liên quan cách nào đó với các chứng thần kinh loạn, đã rắp tâm nuôi dạy con em mình sao cho chúng trở thành những đứa trẻ hoàn toàn không có chút mặc cảm nào về tội lỗi. Thật là một điều tai hại không thể lường được cho đứa trẻ!

Các nhà tù của chúng ta đầy kín những con người sở dĩ phải ở đó chỉ bởi vì họ không có – hay không có đủ – mặc cảm tội lỗi. Chúng ta cần có mặc cảm tội lỗi một mức nào đó thì mới có thể tồn tại trong xã hội được. Tôi gọi đó là mặc cảm tội lỗi tự nhiên.

Tuy nhiên, tôi thấy cần phải nhấn mạnh ngay ở đây rằng việc có qua nhiều mặc cảm tội lỗi sẽ làm tắt nghẽn cuộc sống chúng ta thay vì bồi dưỡng cho nó. Và đó là mặc cảm tội lỗi thần kinh loạn. Thử hình dung bạn đi vòng quanh một sân gôn, mang trong bao túi của mình tám chục chiếc gậy thay vì mười bốn (con số gậy cần thiết để chơi các môn đánh gôn tùy ý)! Nghĩa là, bạn là người đi đường mang quá nhiều hành lý! Bạn phải giải quyết số hành lý quá tải của bạn càng nhanh bao nhiêu càng hay bấy nhiêu. Và nếu như điều đó có nghĩa rằng bạn cần tiến hành nhận sự trị liệu tâm lý, thì bạn đừng nên chần chừ gì cả. Cảm thức tội lỗi thần kinh loạn là cái không cần thiết – và nó chỉ gây ách tắc hành trình qua sa mạc cuộc đời của bạn mà thôi.

Điều này không chỉ đúng với mặc cảm tội lỗi mà còn đúng với các dạng khổ đau tâm cảm khác nữa. Chẳng hạn, sự phiền não cũng vừa có thể là chuyện bình thường vừa có thể là thần kinh loạn. Và điều quan trọng là phải biết biện phân chính xác đôi đàng.

Có một qui tắc rất giản dị song cũng rất sắc bén để xử lý những nỗi đau tâm cảm trong cuộc đời. Qui tắc ấy bao gồm một tiến trình ba bước.

Đầu tiên, bất cứ khi nào bạn khổ đau trong tâm cảm, bạn hãy tự vấn mình: “Nỗi đau này – hay mối phiền não này hay mặc cảm tội lỗi này – là tự nhiên hay làthần kinh loạn?” Ước chừng 10% các trường hợp, bạn sẽ không thể trả lời được câu hỏi đó. Còn đối với 90% các trường hợp còn lại, nếu bạn suy nghĩ và tự hỏi như vậy, thì câu trả lời sẽ rất sáng tỏ. Chẳng hạn, nếu bạn lo lắng về việc khai thuế thu nhập của mình cho kịp thời, bởi vì bạn đã có lần bị phạt nặng do trễ hạn, thì tôi đoan chắc với bạn rằng nỗi lo lắng ấy là tự nhiên. Nó đúng đắn. Bạn hãy chung sống với nó và cố gắng tiến hành khai thuế cho kịp thời đi. Đàng khác, nếu bạn xác định rằng nỗi khổ mà bạn đang trải qua là thần kinh loạn và đang làm bế tắc cuộc sống của mình, thì bạn hãy thực hiện bước thứ hai bằng cách tự vấn: “Tôi sẽ ứng xử thế nào nếu như tôi không đang có nỗi lo lắng này hay mặc cảm tội lỗi này?”

Bước thứ ba là trả lời câu hỏi ấy và thực hiện y như điều mình trả lời. Như châm ngôn của hiệp hội AA (3): “Hãy làm như thật!“, hoặc “Hãy giả bộ như thế để trở thành thực sự như thế!”

Lần đầu tiên tôi học được qui tắc này là khi tôi giải quyết nỗi xấu hổ của chính mình. Đành rằng xấu hổ là điều tự nhiên của con người, nhưng chúng ta có thể giải quyết nó bằng những cách thế hoặc tự nhiên hoặc thần kinh loạn. Những lần ngồi giữa một cử tọa đông đúc, lắng nghe các diễn giả tên tuổi thuyết trình, đôi khi tôi cảm thấy có một thắc mắc mà mình nên nêu ra – về một thông tin nào đó mà tôi muốn biết hay một nhận định nào đó mà tôi muốn bày tỏ công khai (hay thậm chí một cách riêng tư giữa mình với diễn giả sau bài nói chuyện). Nhưng rồi tôi kiềm chế, ‘ngậm tăm’ luôn, vì tôi quá xấu hổ và sợ bị bài bác hay sợ trở thành trò cười cho mọi người.

Sau một thời gian như vậy, cuối cùng tôi tự hỏi: ”Cách xử lý này đối với sự xấu hổ của mình – tức kiềm chế không nêu thắc mắc của mình ra – sẽ bồi dưỡng cho cuộc sống mình hay sẽ làm nghèo nàn nó?” Vừa khi tự hỏi như thế, tôi thấy câu trả lời thật rõ ràng: Cách xử lý ấy đang hạn chế chứ không bồi dưỡng cho cuộc sống của tôi. Và tôi tự nhủ: “Này Scotty, mày sẽ hành động thế nào nếu mày không xấu hổ đến vậy? Mày sẽ hành động thế nào nếu mày là nữ hoàng Anh hoặc là tổng thống Mỹ?” Câu trả lời rõ ràng là: Tôi sẽ mạnh dạn đứng lên, bước tới chỗ vị diễn giả, và nói lên điều mình muốn nói. Thế là tôi tự thúc giục mình: “Nào, đứng lên, bước tới và làm y như thế. Hãy làm như thể mình không xấu hổ.”

Tôi công nhận rằng đó là một điều kinh khủng, nhưng đây chính là lúc mà lòng can đảm nhập cuộc. Có một điều khiến tôi luôn luôn ngạc nhiên là tại sao chỉ có tương đối ít người hiểu được thế nào là can đảm. Phần đông người ta nghĩ rằng can đảm là không sợ hãi. Không đúng, vì không sợ hãi đâu phải là can đảm. Không sợ hãi là một dạng thương tổn trong não bộ. Còn can đảm là khả năng tiến tới, bất chấp sự sợ hãi hay bất chấp nỗi đau nơi mình. Khi bạn làm thế, bạn sẽ thấy rằng việc vượt qua nỗi sợ sẽ không chỉ làm cho bạn mạnh mẽ hơn mà còn là một bước quyết định đưa bạn tiến lên trên bậc thang trưởng thành.

Nhưng thế nào là trưởng thành? Khi tôi viết Con Đường Chẳng Mấy Ai Đi, dù tôi đã mô tả rất nhiều người ấu trĩ, song tôi đã không bao giờ đưa ra một định nghĩa về sự trưởng thành. Tôi cho rằng điều dường như đặc trưng cho những người ấu trĩ là họ cứ chôn chân một chỗ, thở vắn than dài rằng cuộc sống không đáp ứng những đòi hỏi của họ. Như Richard Bach đã viết trong quyển Ảo Ảnh (Illusions) của ông: “Hãy bào chữa cho các hạn chế của bạn, và luôn luôn ghi nhớ rằng những hạn chế ấy là của bạn”. Nhưng đối với số tương đối ít người trưởng thành đầy đủ thì việc đáp ứng các yêu cầu trong cuộc sống là trách nhiệm của chính bản thân mình, thậm chí đó là một cơ hội cho mình.

Trích: Cuộc đời đầy gai góc, M. Scott Peck, M.D.

This entry was posted in Nghệ thuật tư duy và Cơ chế vận hành tâm trí. Bookmark the permalink.