Các cơ chế phòng vệ ở các cấu trúc tâm trí khác nhau

Định nghĩa

Một cơ chế phòng vệ là một tiến trình bảo vệ được xây dựng bởi cái Tôi dưới áp lực của cái Siêu tôi và thực tiễn cuộc sống bên ngoài, và nó cho phép chống lại những lo hãi. Có nhiều cơ chế phòng vệ.
Những cơ chế tâm trí này là để bảo vệ cái Tôi khỏi những đòi hỏi xung năng của cái Nó. Nhưng cái mà cái Tôi ưu tiên bảo vệ nó vẫn là những lo hãi.
Ví dụ, một biểu tượng vô thức không tương thích với những yêu cầu của cái tôi. Biểu tượng vô thức này của cái Tôi mang đến sự hài lòng (khoái cảm) nhưng cũng đồng thời gây nên sự không hài lòng. Cái tôi, để tự bảo vệ mình khỏi biểu tượng này, sẽ sử dụng nhiều phương pháp mà người ta tập hợp thành dưới thuật ngữ “các cơ chế phòng vệ”.
Cái Nó, cái Tôi, cái Siêu tôi là những hiện thể tâm trí.

Lưu ý:

  • Loạn tâm: đó là những cảm xúc về tâm thần là hậu quả của những mất mát, tổn thương sớm, có nghĩa là trong khoảng thời gian lúc trẻ nhỏ hơn 1 tuổi, tiền hình thành cái Tôi theo hướng loạn tâm. Và chỉ vào giai đoạn dậy thì, khi chủ thể trải qua các kinh nghiệm sống khác, mà người ta mới nhận định là loạn tâm đã hình thành hay không, và những trải nghiệm này có được phục hồi hay không. Vì vậy thì tâm thần phân liệt chỉ được chẩn đoán vào khoảng 16 đến 20 tuổi.
  • Nhiễu tâm: liên quan đến xung đột của giai đoạn ơ đip, và được hiện thực hóa ở tuổi dậy thì. Đó sẽ là hystéri, và chủ yếu là nhiễu tâm ám ảnh (cứng nhắc).

Phòng vệ tự kỷ

Đứa trẻ có thể đối diện với nỗi sợ cái chết từ rất nhỏ. Nó trông cậy vào phương tiện phòng vệ cơ bản, đó là những cơ chế phòng vệ:

  • Cắt đứt: đây là cơ chế bị động nhằm vào việc khiến cái Tôi non trẻ bị treo, không tồn tại. Các biểu hiện của xung năng bị đẩy rời, và đứa trẻ sẽ không còn lo hãi nữa. Điều đó sẽ trở thành bệnh lý khi cơ chế được sử dụng thái quá, quá nhiều và theo lối mòn. Cơ chế cắt đứt dường như là cơ bản nhất trong số các cơ chế với mục tiêu treo mọi liên hệ với thực tế (có thể gặp ở những những giai đoạn sau tình huống chủ thể ngập chìm trong âm nhạc theo cách lặp đi lặp lại, hoặc trong nghiện ngập…). Điều đó được nhận thấy ở trẻ tự kỷ khi nó cắt đứt mọi liên hệ và trở nên lơ mơ, lơ đãng với thực tế.
  • Đồng nhất bám dính: là hình thức đồng nhất ở bề mặt. Cơ chế này được nhận thấy ở chứng lặp lời nói (nhại), tức là chỉ bề mặt của thái độ và hành vi là được sử dụng lại. Về mặt ý nghĩa thì trống rỗng. Đây hoàn toàn là bắt chước, bám vào một cảm giác nào đó để tránh lo hãi (ví dụ, người ta cũng nhận ra ở những chủ thể có cái nhìn cố định vào một điểm). Điều đó có liên quan tới tiếp xúc cơ thể và tâm trí. Cơ chế đồng nhất bám dính là nhằm tránh sự biến mất.

Cơ chế phòng vệ loạn tâm

  • Rất cổ xưa, các cơ chế có liên quan tới mối quan hệ đối tượng không mang tính sinh dục. Các cơ chế thường có giá trị về mặt triệu chứng.
  • Phân tách: đó là cơ chế phòng vệ loạn tâm đầu tiên, cơ bản nhất. Phân tách có liên quan tới hoặc là Đối tượng, hoặc là Tôi. Trong phân tách, Đối tượng bị chia thành 2 phần, xấu và tốt, và có số phận riêng rẽ nhau (Đối tượng xấu và Đối tượng tốt). Ví dụ: chủ thể sống với thực tế, và phủ nhận nó hoàn toàn, một phần của cái Tôi phủ nhận phần cuộc sống đó, mà không có một chút ảnh hưởng nào tới phần kia của cái Tôi. Trong phân tách, người ta giữ Đối tượng tốt khỏi Đối tượng xấu, để tránh sự lây nhiễm. Sự phân tách của cái Tôi giúp phần tốt tránh khỏi xung năng, khỏi phần xấu của cái Tôi có liên quan đến xung năng chết (sự nhập nhằng, mơ hồ là một cơ chế thay thế cho phân tách trong nhiễu tâm, bởi vì phân tách chỉ ở cấu trúc loạn tâm).
  • Phóng chiếu: đó là sự vận hành tâm trí cho phép chủ thể để ra bên ngoài những gì trên thực tế nằm bên trong chủ thể. Chủ thể gán cho người khác những cảm xúc mà chủ thể muốn bảo vệ mình khỏi nó, và đó là những cảm xúc mà chủ thể muốn từ chối nhận ra ở bản thân mình. Phóng chiếu cũng tồn tại như một cơ chế nhiễu tâm, nhưng với sự định vi ở bên ngoài ít sống động hơn, với mục đích nhận thức ở phần tiền ý thức, còn phóng chiếu loạn tâm thì rõ nét hơn, có hệ thống hơn, giống như trong hoang tưởng (hoang tưởng là một dạng loạn tâm) mà cơ chế này là chủ đạo, được sử dụng dưới dạng ảo giác. Chủ thể chối bỏ một ham muốn không thể chấp nhận được và phóng chiếu ham muốn này lên người khác.
  • Nội nhập: sự vận hành tâm trí cho phép chủ thể định vị ở bên trong mình những điều trên thực tế ở bên ngoài. Xu hướng tự nhiên là nội nhập những Đối tượng tốt vào bên trong mình để củng cố cái Tôi. Đây là cơ chế mà chủ thể đưa đối tượng ở bên ngoài cùng với những phẩm chất đi kèm vào bên trong, là cơ chế mang tính loạn thần, nhưng đôi khi cũng được người nhiễu tâm sử dụng;
  • Lý tưởng hóa: đối tượng tốt trở nên hoàn hảo, lý tưởng, tách rời với đối tượng Xấu. Đây là cơ chế mang tính loạn thần đặc trưng, được sử dụng ở người tâm thần phân liệt và hoang tưởng (đối với người mắc hoang tưởng nằm ở trong bệnh viện tâm thần, thường bác sĩ cấp trên được lý tưởng hóa). Việc lý tưởng hóa cho phép bảo vệ Đối tượng tốt khỏi những xung năng phá hủy bằng cách phóng đại những phẩm chất một cách thái quá;
  • Xem thường (hạ thấp) đối tượng: đối tượng bị hạ thấp giá trị, bị chán ngấy, để tự bảo vệ mình khỏi những lo hãi là kết quả của việc mất mát nếu có xảy ra với đối tượng. Đó là một sự phòng vệ mang tính ám ảnh, quá khích (ví dụ: rời bỏ người mà mình yêu để tránh bị bỏ rơi).
  • Kẻ cả/ hiếu thắng: đối tượng chả có giá trị nào cả. Đó chính là thái độ toàn năng của chủ thể đối với đối tượng. Kiểm soát chuyên chế, tuyệt đối với đối tượng, cơ chế này gần giống với cơ chế xem thường đối tượng.
  • Đồng nhất phóng chiếu: một phần nhân cách của chủ thể len vào cái Tôi của Đối tượng để kiểm soát đối tượng, làm hại đối tượng hoặc tìm kiếm sự thỏa mãn. Phần này luôn thuộc về chủ thể.
  • Đồng nhất nội chiếu: một phần nhân cách của người khác đưa vào chủ thể để kiểm soát, làm hại hay tìm kiếm sự thỏa mãn. Phần này của nhân cách của người khác vẫn luôn là phần nhân cách sống động của người khác.
  • Thoái lùi: mất đi những gì đã có được trước đây để tìm kiếm lại kiểu quan hệ trong cuộc sống cổ xưa hơn.
  • Phủ nhận thực tế: chủ thể phủ nhận một phần của thực tế mang lo hãi tới cho chủ thể.
  • Khước từ/ không chấp nhận: giọng nói, ý nghĩ, hình ảnh, mùi hương… những điều mà chủ thể không nhận ra ở mình và đến từ bên ngoài dưới dạng ảo giác. Điều đó có liên quan đến sự thất bại trong hệ thống biểu tượng, sự tách rời giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Không có sự quay trở lại của cái đã bị dồn nén, điều này giống như ở những người nhiễu tâm trong lời nói lỡ và giấc mơ. Trong cấu trúc loạn tâm, không phải là chủ thể tự nói mà người khác ở bên ngoài nói với chủ thể.

Các cơ chế phòng vệ mang tính nhiễu tâm

  • Dồn nén: đây là cơ chế chủ yếu có liên quan tới tội lỗi và góp phần vào tất cả các cơ chế phòng vệ khác. Đó cũng là cơ chế phức tạp nhất. Nó được xây dựng từ vô thức. Bằng sự dồn nén mà nhiều điều trong vô thức không bao giờ tới được ý thức, và nhiều điều khác quay trở lại từ vô thức. Dồn nén cùng một lúc là vừa là áp lực vừa mang tính duy trì. Dồn nén khiến cho những biểu tượng có liên quan đến xung năng phải quay trở lại vô thức, vì có nguy cơ gây ra sự không hài lòng dưới con mắt của Siêu tôi và thực tiễn bên ngoài. Một biểu tượng được gọi là dồn nén khi nó chịu đựng sức hấp dẫn của vô thức và chịu sự kiểm duyệt (dồn nén nguyên thủy + kiểm duyệt). Không bao giờ xung năng bị dồn nén, mà biểu tượng của nó (xung năng có 2 khía cạnh: cảm xúc và biểu tượng). Cảm xúc không bao giờ bị dồn nén. Biểu tượng bị dồn nén của xung năng lưu lại ở vô thức và tự tổ chức ở đó. Biểu tượng sẽ làm phần việc của nó là bóp méo và chia cách. Nó sẽ hình thành các hệ quả là mỗi người phải chịu đựng một số phận riêng. Gánh nặng cảm xúc, hay tình cảm, sẽ kết nối với một trong số những hệ quả này, và có xu hướng mỗi lần bộc lộ ra một cách khác nhau, và sự quay trở lại cũng điều bị dồn nén được thể hiện trong các giấc mơ, các hành vi sai lạc, những lời nói lỡ… Cần phải xem xét cơ chế dồn nén như là một bước đầu tiên. Sản phẩm bị dồn nén (những biểu tượng tinh thần không thể nói thẳng ra) được giữ lại trong cái Nó;
  • Phản ứng ngược: đó là thái độ đối lập với một ham muốn bị dồn nén và hình thành một phản ứng chống lại ham muốn đó. Đầu tiên là một dồn nén, sau đó là chống đầu tư vào yếu tố ý thức. Ví dụ, người mà suốt ngày lau chùi, là bởi vì họ không chấp nhận sự bẩn thỉu, và phản ứng giống như ham muốn giai đoạn hậu môn, phản ứng cho phép người đó chạm vào cái bẩn nhưng vẫn tôn trọng cái Siêu tôi và những đòi hỏi từ bên ngoài. Hình thành phản ứng ngược có liên quan chủ yếu đến xung năng giai đoạn hậu môn và những dẫn xuất của nó (phong tục tập quán, sự sạch sẽ, sự trung thực…) chỉ để chống lại (chống lại việc bẩn, chống lại tính hà tiện, chống lại sự lộn xộn…). Đôi khi, cái dồn nén cũng bộc lộ ra. Trong người nhiễu tâm ám ảnh, cơ chế này rất điển hình, nực cười, không phù hợp thực tế, manh tính bệnh lý. Hình thành phản ứng ngược có thể được mọi người sử dụng theo cách phù hợp, tại thời điểm nào đó: đó là một cơ chế mang tính khơi thông.
  • Cô lập: cơ chế này nhằm vào việc cô lập một suy nghĩ hay một hành vi khỏi cảm xúc, khỏi ngữ cảnh về tình cảm. Biểu tượng được nhận ra nhưng không chạm tới chủ thể. Người ta nhận thấy cơ chế này ở những người nhiễu tâm ám ảnh. Rất thường xuyên, cảm xúc bị chuyển gắn với một biểu tượng khác vô hại và trở thành bị cưỡng bức, ám ảnh. Cảm xúc, mà người ta nói rằng là không thể dồn nén, đã được định hướng lại. “họ vẫn chưa nhận ra điều gì xảy ra với họ”, đôi khi người ta nói như vậy khi mà điều đó trở nên mang tính bệnh lý, nhưng cơ chế này vẫn hoạt động để bảo vệ cái Tôi.
  • Chuyển dịch: cảm xúc có liên quan với một biểu tượng tinh thần có tính nguy hiểm được tách rời với biểu tượng này để đầu tư sang một biểu tượng khác ít nguy hiểm hơn nhằm được giải tỏa;
  • Hủy bỏ mang tính phản hồi: để những suy nghĩ, cử chỉ hay lời nói không xảy ra, và do đó chủ thể sử dụng một suy nghĩ mới, một hành vi mới có ý nghĩa khác hoặc được giả định là khác;
  • Quay trở lại với bản thân: là tiến trình mà xung năng thế chỗ cho một đối tượng bên ngoài độc lập. Gánh nặng về cảm xúc không thay đổi nhưng quay trở lại với chủ thể. Ví dụ, người ác dâm khi quay trở lại với bản thân thì được gọi là khổ dâm. Điều này có liên quan chủ yếu tới các xung năng hung tính. Chú ý rằng trong cơ chế nhập nội, có một phẩm chất bên ngoài mà người ta đặt vào trong mình, còn trong cơ chế này, năng lượng xung năng đã thuộc về chủ thể nhưng thay vì hướng ra bên ngoài thì bây giờ quay trở lại bản thân. Điều này có thể nhận thấy trong trường hợp tự sát, hoặc trong tình huống hung tính với bản thân.
  • Xung năng chuyển sang chiều ngược lại: mục đích của xung năng chuyển sang chiều ngược lại là để chủ thể chuyển từ trạng thái chủ động sang bị động. Ví dụ, sự hung tính đối với người mà họ yêu, thì đó là cách để tách rời. Ví dụ khác, người thị dâm chuyển sang người phô dâm. Chú ý rằng, trong cơ chế quay trở lại với bản thân, người thị dâm chuyển sang ái kỷ, thị dâm với bản thân mình;
  • Hợp lý hóa: chủ thể tìm cách đưa ra một lời giải thích logic, gắn kết, chấp nhận được, phù hợp đạo đức đối với một thái độ, một tình cảm. Điều đó cho phép giải thích sự vận hành hoặc thái độ khác đến với cảm xúc, và cho phép sự thỏa mãn xung năng mang tính mặc cảm tội lỗi. Cái Siêu tôi tìm kiếm những điểm tựa về đạo đức, chính trị hay tôn giáo để củng cố việc bảo vệ cái Tôi. Người ta cũng nhắc tới cơ chế tri thức hóa, mục đich của nó là kiểm soát bằng cách đặt cảm xúc ra xa. Đó là trò chơi với từ ngữ và các ý tưởng để đặt các xung năng sang một bên.
  • Phủ nhận: chủ thể thể hiện một ham muốn, một suy nghĩ, một tình cảm bị dồn nén bằng cách phủ định rằng chúng thuộc về chủ thể. Đó là một sự phủ nhận mang tính dự phòng cho phép nhấn mạnh tới điều gì là quan trọng “tôi sẽ nói cho bạn về cái mà không phải là tôi” (nhưng trên thực tế đó là tôi). Người ta thể hiện sự tồn tại theo cách không tồn tại. Có một sự chấp nhận nhất định đối với cái dồn nén, và cái dồn nén vẫn còn ở dưới dạng bị phủ định. Phủ nhận là một phương tiện để ý thức về cái dồn nén, một dạng chấp nhận mang tính trí thức hóa với những cảm xúc không được đón nhận. Cái Tôi ở trong trạng thái không nhận thức của ý thức. Có thể họ ghê sợ trong việc đồng nhất với cái mà họ vừa nói.
  • Thăng hoa: cơ chế có liên quan tới các hoạt động trí tuệ, nghệ thuật hay tôn giáo. Không có dồn nén mà là chuyển hóa các xung năng dục năng (libido) vào mục đích phi dục tính làm nâng cao giá trị của chủ thể. Thăng hoa được thực hiện dưới áp lực của cái Siêu tôi và yêu cầu của lý tưởng cái Tôi. Không có mặc cảm tội lỗi, mà đúng hơn là có ái kỷ. Có 3 đặc điểm: chuyển dịch đối tượng, thay đổi bản chất xung năng, đối tượng được hướng đến là những giá trị xã hội. Thăng hoa chuyển các xung năng tính dục sang đối tượng được xã hội đánh giá cao.
  • Ức chế: né tránh một tình huống mà gọi lên trong chủ thể những xung năng không được đón nhận.

Ngô Thị Thu Huyền, dịch từ nguồn:http://psychiatriinfirmiere.free.fr/infirmiere/formation/psychologie/psychologie/mecanisme-defense.htm

This entry was posted in Nghệ thuật tư duy và Cơ chế vận hành tâm trí. Bookmark the permalink.