Phát triển kỹ năng xã hội ở trẻ em và trẻ vị thành niên

OMS (Organisation Mondiale de la Santé – Tổ chức y tế thế giới) đã định nghĩa các kỹ năng xã hội là “khả năng ứng phó một cách hiệu quả của cá nhân trước những đòi hỏi và thử thách của cuộc sống hàng ngày. Đó là cách thức duy trì trạng thái mạnh khỏe về mặt tinh thần với những hành vi phù hợp và tích cực trong mối quan hệ với những người khác với bối cảnh văn hóa và môi trường xung quanh.”

Các kỹ năng này có liên quan chặt chẽ tới sự tự tôn và các quan hệ liên cá nhân, đó là hai mặt của cùng một vấn đề: mối quan hệ với bản thân mình và mối quan hệ với người khác. OMS đã nêu rõ 10 nguyên lý của kỹ năng xã hội được chia thành từng cặp đôi như sau:

  • Biết giải quyết vấn đề / Biết đưa ra quyết định;
  • Có tư duy phản biện / Có suy nghĩ mang tính sáng tạo;
  • Biết giao tiếp hiệu quả / Linh hoạt trong mối quan hệ liên cá nhân;
  • Ý thức về bản thân mình / Đồng cảm với những người khác
  • Biết quản lý căng thẳng / Biết quản lý các cảm xúc

Những kỹ năng xã hội phát huy tính hữu ích đối với cá nhân về mặt xã hội, nhận thức và cảm xúc. Đó là yếu tố nền tảng cho các hành xử của cá nhân, và cũng là cơ sở cho các chương trình xã hội hỗ trợ về sức khỏe.

Các nghiên cứu khoa học đối với các hành vi nguy cơ về mặt sức khỏe như: sử dụng các chất hướng thần, các hành vi bạo lực, các quan hệ tình dục mang tính rủi ro thường có ở những cá nhân có kỹ năng xã hội không cao. Việc ít trang bị các kỹ năng xã hội là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới các hành vi này, mà chúng là nguồn gốc của các vấn đề về sức khỏe hay các tình huống độc hại ảnh hưởng tới sự lành mạnh của con người: nghiện ngập, quan hệ tình dục bừa bãi, mang thai không như ý muốn, rối loạn hành vi… Do đó, người ta nói đến kỹ năng xã hội như là yếu tố nền tảng, mang tính quyết định. Phát triển các kỹ năng xã hội do đó mang tính nâng cao nhận thức và cảnh báo đối với các vấn đề về nghiện chất hay sức khỏe tâm thần.

Việc giáo dục kỹ năng xã hội cần thông qua mọi hoạt động học tập và mọi mối quan hệ liên cá nhân hàng ngày, theo một cách hệ thống. Trẻ được khuyến khích thực hiện các kỹ năng trong cuộc sống, theo một tiến trình được trao quyền để khắc sâu dần các kỹ năng đó. Việc trao quyền có nghĩa là sự tăng trưởng về quyền hạn của cá nhân hoặc nhóm trong điều kiện xã hội, kinh thế, luật phát hay môi trường sinh thái mà cá nhân có thể cáng đáng được. Rất nhiều khái niệm tương đương được sử dụng:, nhưng nếu những mục tiêu hình thành thói quen về kỹ năng không được tạo điều kiện thuận lợi, thì các khái niệm đó chỉ dừng lại ở mức độ lý thuyết, trong trí nhớ thậm chí bị quên nhanh. Các kỹ năng đó cần được nhận biết và củng cố ở trong việc học tập suốt đời và trong mọi môi trường cuộc sống (gia đình, trường học, nơi làm việc…) bởi vì các môi trường đó tương tác để hình thành mô hình kỹ năng của cá nhân.

Những nguyên tắc để phát triển các kỹ năng xã hội: các buổi học tập, theo nhóm, được tổ chức định kỳ, kéo dài một hoặc nhiều giờ để làm rõ và làm sâu mỗi một hoặc hai kỹ năng xã hội trong mỗi buổi. Phương pháp học là tập trung vào trao đổi, đưa ra các tình huống, đóng vai và thực hành trong cuộc sống thường nhật. Người học sẽ tự nguyện tiếp nhận kỹ năng theo mong muốn, cảm thấy phù hợp với môi trường sống của bản thân mình.

Lưu ý rằng, các kỹ năng không mang tính bẩm sinh, nó tới từ việc lặp đi lặp lại và việc thực hành. Các kỹ năng do đó có thể được giáo dục: quản lý tài chính, vệ sinh cá nhân, kỹ năng học tập, kỹ năng xã hội, lựa chọn thực phẩm an toàn… Như thế, bằng việc trang bị kỹ năng sống (mà kỹ năng xã hội là một trong các kỹ năng sống) giúp cho đứa trẻ tự lập, khỏe mạnh, tự chịu trách nhiệm về bản thân trong suốt cuộc đời trưởng thành sau này.

Ngô Thị Thu Huyền

Tài liệu tham khảo:

 

This entry was posted in Nghệ thuật sống Kỹ năng sống Tư duy tích cực. Bookmark the permalink.