Nhu cầu tư vấn và trị liệu tâm lý

Xã hội hiện đại càng phát triển, càng phát sinh ra nhiều mối nguy hiểm tiềm năng cho sức khoẻ của con người, đặc biệt là sức khoẻ tâm trí. Đó là môi trường ngày càng bị ô nhiễm, không gian thoáng sạch ngày càng bị thu hẹp, thói quen sống huỷ hoại sức khoẻ, stress do các nguyên nhân sinh–tâm lý và xã hội… đang trở thành những tác nhân kích thích làm nảy sinh và duy trì các dạng mức khác nhau của bệnh tâm trí.

Bệnh tâm trí còn gọi là bệnh tâm thần, hiểu theo đúng nghĩa, bao gồm một loạt các dạng thái khác nhau. từ những rối nhiễu tâm lý như lo âu, trầm cảm, ám ảnh, hung tính… đến những rối loạn tâm thần như hoang tưởng, tâm thần phân liệt, động kinh.

leadImage_mini

Kinh nghiệm của các nước công nghiệp phát triển cho thấy xã hội càng phát triển, con người càng mắc nhiều các chứng rối nhiễu tâm trí. Theo thống kê, từ 15–20% dân số thế giới hiện đang mắc một hay nhiều chứng rối nhiễu tâm thần.

Ở Mỹ, theo số liệu của các tác giả Zimbardo & Weber (1997): Mrazek & Haggerty (1994), năm 1978 có khoảng 10–15% dân số Mỹ mắc ít nhất một chứng bệnh nào đó về tâm trí: năm 1991 có khoảng 20% dân số mắc rối nhiễu tâm trí nếu tính từng năm, và khoảng 32% nếu tính cả cuộc đời của từng cá nhân (trong đó trẻ em và thanh niên chiếm gần 2/3). Theo số liệu của Carson (1996) hiện có trên 56 triệu người Mỹ mắc ít nhất một triệu chứng rối nhiễu tâm trí đáp ứng tiêu chuẩn DSM–IV.

Ở Australia (Úc), theo D. Leach (1996) từ 10%–25% dân số mắc rối nhiễu tâm trí, khoảng 20–25% trẻ em Úc có rối nhiễu về hành vi và khó khăn học đường.

Còn ở Việt Nam, tỷ lệ nhưng người mắc các chứng bệnh tâm trí là bao nhiêu? Hiện chưa có những nghiên cứu điều tra trên phạm vi cả nước, nhưng theo một số nghiên cứu mang tính cục bộ (bệnh viện tâm thần trung ương) ở một số xã, một số tỉnh thì tỷ lệ này là từ l5–20%. Cũng theo các nghiên cứu này, khoảng 1,5% dân số mắc các chứng loạn thần nặng như tâm thần phân liệt, động kinh… Như vậy, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ, đặc biệt là sức khoẻ tinh thần để phòng tránh các chứng bệnh tâm trí là nỗi lo của toàn xã hội.

Thực tiễn công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở Việt Nam đã và đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trên các bình diện kinh tế, văn hoá và xã hội. Những biến đổi xã hội này không thể không gây xáo động tâm tư, do vậy ảnh hưởng mạnh đến đời sống tâm trí của mỗi cá nhân. Chẳng hạn theo số liệu của bộ phận tư vấn tâm lý–tình cảm–xã hội 1080, ngành bưu điện, mỗi ngày trung bình có khoảng 100 cuộc gọi, trong 3 năm (1997–1999) đã có gần 80.000 cuộc gọi nhờ tư vấn qua điện thoại. Tại trung tâm khám chữa bệnh và tư vấn sức khoẻ số 9 Ngọc Khánh, chỉ tính riêng hai năm 97–98 đã có gần 200 ca lâm sàng với những rối nhiễu tâm lý từ ám sợ, lo âu, trầm cảm đến hoang tưởng, động kinh… đến nhờ tư vấn và tư liệu tâm lý.

221-istock-000006493749xsmall

Nhu cầu tư vấn và trị liệu những rối nhiễu tâm trí ở trẻ em lại càng lớn và ngày càng tăng lên. Một nghiên cứu thử nghiệm mới đây của Hội Tâm lý học Hà Nội về rối nhiễu hành vi ở lứa tuổi học sinh PTTH (trên 1266 hs. ở 27 lớp, thuộc bốn trường PTTH khu vực Hà Nội), phát hiện thấy có khoảng gần 10% học sinh có ít nhất một biểu hiện rối nhiễu hành vi (theo hệ thống phân loại của Hội tâm thần học Mỹ, 1994). Một nghiên cứu khác mới nhất (tháng 4/2000) của chúng tôi cùng nhóm sinh viên Khoa Tâm lý ĐHKHXH&NV về rối nhiễu lo âu và kỹ năng thích ứng xã hội ở lứa tuổi học sinh THCS (trên 503 hs thuộc 3 trường THCS khu vực Hà Nội) cho thấy có ít nhất 17,74%– 18,81% hs có biểu hiện rối nhiễu lo âu và 17,65 – 19,21% hs có thiếu hụt kỹ năng thích ứng xã hội (có nhận thức và hành vi kém thích nghi) trên tổng số hs được điều tra.

Như vậy nếu lấy một con số dự báo khiêm tốn, trung bình có khoảng 15% trẻ em có khó khăn học đường hoặc có rối nhiễu hành vi thì đã có hàng triệu trẻ em cần sự giúp đỡ của các bác sỹ tâm lý. Tại sao vậy? Trẻ em hiện nay phải chịu sức ép nặng nề trong học tập, một bên là của bố mẹ nôn nóng muốn cho con học sớm, đọc nhiều… bên kia là của các cơ quan giáo dục ngày càng dồn vào chương trình học rất nhiều môn, nhiều kiến thức mới… Trong lúc đó, những nhu cầu tâm lý khác của trẻ không được đáp ứng… ép học, kìm hãm nhu cầu… từ đó dễ sinh ra rối nhiễu tâm trí.

Dưới góc độ nghiên cứu chẩn đoán trị liệu, theo báo cáo thống kê phân loại các rối nhiễu tâm trí của trẻ em và thiếu niên qua 352 hồ sơ của bác sĩ Phạm Văn Đoàn thuộc Trung tâm Nghiên cứu tâm lý trẻ em (NT) tính từ tháng 1/1989 đến tháng 10/1995 cho biết có những nhóm rối nhiễu tâm trí cơ bản sau đây:

– Loạn tâm: có 24 trường hợp, chiếm 6,8%, trong đó chủ yếu là tâm thần phân liệt ở tuổi tiền đậy thì và dậy thì.

– Nhiễu tâm: có 95 trường hợp, chiếm 27%, chủ yếu là nhiễu tâm tiến triển có biểu hiện hysteria và ám sợ trội.

– Bệnh lý về nhân cách và các rối nhiễu tiến triển ngoài loạn tâm và nhiễu tâm có 14 trường hợp, chiếm 4%, trong đó chủ yếu là trái nết, dị tính.

– Các rối nhiễu phản ứng: có 5 trường hợp.

– Các suy giảm tâm trí: có 44 trường hợp chiếm 12.5%, bao gồm chậm khôn nhẹ và vừa.

– Các rối nhiễu chức năng công cụ và luyện tập: có 96 trường hợp chiếm 27,3%, trong đó chủ yếu là TIC (máy giật cơ) đơn độc và rối nhiễu về ngôn ngữ, hành vi học đường.

– Các rối nhiễu có biểu hiện thực thể và rối nhiễu ửng xử: có 106 trường hợp, chiếm 30% chủ yếu là đái dầm.

Theo kết, quả nghiên cứu chẩn đoán điều trị trực tiếp của chúng tôi phối hợp cùng với khoa Tâm bệnh, Bệnh viện Nhi Thụy Điển và Trung tâm Khám chữa bệnh và Tư vấn sức khoẻ số 9 Ngọc Khánh và Trường THCS Chương Dương trong 10 tháng, tính từ tháng 1 đến tháng 10 năm 1999, có 64 ca, đến thăm khám về tâm lý, trong đó có 35 trường hợp là trẻ em và thiếu niên (dưới 16 tuổi) gồm 20 nữ và 15 nam. Rối nhiễu tâm trí của nhóm trẻ này chủ yếu là: nhiễu tâm (gồm lo âu, ám ảnh nghi thức, ám sợ, trầm nhược…), rối nhiễu các chức năng công cụ (gồm TIC, nói lắp, hiếu động, hung bạo, kém học…). rối nhiễu có biểu hiện thực thể hoặc rối nhiễu ứng xử (đau bụng, đau cơ thể, ngất, mệt mỏi chóng mặt, chán ăn tâm thần, đái dầm, đau đầu.)

Trích từ cuốn sách Tâm lý trị liệu (Ứng dụng trong lâm sàng và tự chữa bệnh), Nguyễn Công Khanh

This entry was posted in Sức khỏe tâm thần trong cuộc sống. Bookmark the permalink.