Hồ sơ một vụ tự sát: Bức thư tuyệt mệnh

3–4–1995. Thế là tôi quyết định chọn cái chết cho mình, đó cũng là một giải pháp cuối cùng để giải thoát chính mình để sang thế giới bên kia. Tất cả những quá khứ và tương lại sẽ vứt bỏ hết, chỉ còn lại cái chết là tốt nhất.

Vĩnh biệt cuộc đời đau khổ – Tôi chịu quá nhiều mất mát rồi. Bé đã sớm phải chứng kiến cảnh cha mẹ mỗi người một đường. Tôi trơ trọi đứng giữa – Nhìn mà tuyệt vọng.

Tôi xin viết vài dòng ngắn ngủi này. Cái chết của tôi chắc phần nào nhẹ bớt đi một gánh nặng. Mà đáng ra tôi không nên sinh ra và lớn lên ở xã hội này. Nhưng tôi vẫn phải tồn tại. Tôi tồn tại mà tâm hồn tôi đã chết. Tôi chỉ mong muốn một điều:

depression-sutdent

Hãy để tôi được chết

Thanh thản, nhẹ nhàng như bao người đã chọn cho mình một hướng đi. Và đừng cứu tôi – Nếu tôi có sống đi chăng nữa cũng chỉ là cái gai di động trước mắt mọi người. Và hồn đã chết rồi chỉ còn thể xác. Và mọi người lại trách móc. Tôi đần độn, tôi đần độn…, những cái gì đã làm cho tôi đần độn như vậy, cái gì hả? Có phải cuộc sống này đã làm tôi mất mát lớn như vậy? Tôi chỉ mong muốn cho mình một cuộc đời hạnh phúc, đầm ấm, sung sướng. Mà cái ước mơ nhỏ nhoi đó cũng không có được. Thôi tôi dừng bút tại đây. Tôi mong rằng mọi người đều hạnh phúc.

Vĩnh biệt Q. T.

Vĩnh biệt xã hội, ngôi nhà thế giới này

Mong rằng kiếp sau gặp lại

Cuộc đời sẽ hạnh phúc hơn phải không?

Theo lời kể của thân nhân:

Sau 16h30 cùng ngày (sách, vở cặp còn để trên bàn), mẹ gọi con không thấy trả lời, vội mở chăn ra thì thấy chân tay lạnh toát nước tiểu ướt đẫm quần áo, không thở, mắt cứng đờ vội mang đi bệnh viện nhưng không cứu được.

Được biết, bữa trưa hôm đó (3–4–1995), nạn nhân ăn cơm với bà ngoại (vốn ít quan tâm đến cháu), nhưng ăn ít. Sau đó về buồng riêng (có lẽ uống “thuốc diệt chuột Trung Quốc).

Lá thư kể trên được tìm thấy trên mặt bàn, cạnh giường nằm. chắc là được viết ra ngay trước lúc có hành vi tự sát.

Q T. là một thiếu nữ tuổi 16, không thi vào được lớp 8, mới xin vào học một trường trung cấp tài chính do một người chị họ của mẹ đang làm ở ngành này xin cho. Bố mẹ ly dị từ lúc được một năm tuổi.

Mẹ là công nhân, học hết lớp 7, tự nguyện kết hôn với người chồng, hơn 7–8 tuổi, vốn là một cán bộ phiên dịch trung cấp tiếng Nga, đã có lần đi theo một đoàn cán bộ sang Nga làm phiên dịch, bị đuổi về nước vì có quan hệ bất chính với một người con gái Nga. Trở về nước không có việc làm, bố mẹ ở quê là nông dân nghèo. Tuy nghèo, nhưng vẫn cố làm ra vẻ sang trọng: mượn quần áo mới. giày mới.Tình cờ một lần nói chuyện với người Nga trên đường phố, được vợ (chưa cưới) chứng kiến; vả lại bảnh trai. có sức hấp dẫn… rồi hai người kết hôn. Sau khi kết hôn, hai người chỉ thuê được một căn nhà rất tồi tàn. Cảnh nghèo túng không thể che giấu được, người vợ vỡ mộng và quyết định ly dị chồng khi đứa con vừa tròn một tuổi.

Từ khi cha mẹ ly dị, Q.T ở với mẹ và ông bà ngoại. Mẹ ở vậy nuôi con nhưng vẫn có nhu cầu gần gũi với nhiều người đàn ông khác, thường tự nguyện “đi lại” với một người đàn ông, ngay cạnh nhà, là một kỹ sư đã bỏ vợ, sống độc thân, có lần đánh ghen với một người phụ nữ khác là “bồ” của người đàn ông này.

Mẹ ít có thì giờ và ít để tâm chăm sóc con, lại hay mắng “Sao mày đần thế, sao mày hãm thế, không có bạn bè gì cả (ý nói bạn trai)… “, chỉ có ông ngoại quan tâm, nhưng ông đã chết cách đó hai năm.

Một tháng trước đây, Q.T đã rủ một bạn gái đi mua thuốc diệt chuột Trung Quốc, nhưng bạn ngăn lại (lời bạn kể).

Lời bàn của nhà tư vấn tâm lý:

Lá thư có lẽ đã phản ánh khá trung thực tâm trạng cô gái. Nỗi tuyệt vọng bắt nguồn trước hết từ cuộc tan vỡ hôn nhân của hai bố mẹ. Từ khi ly dị, bố Q.T vào ở hẳn Sài Gòn không một lần gặp lại con: cuộc chia ly là vĩnh viễn (thậm chí khi nhận tin con chết cũng không ra thăm). Càng lớn lên, Q.T càng cảm thấy đau khổ vì gia đình tan vỡ. “… Bé đã sớm phải chứng kiên cảnh cha mẹ mỗi người một đường. Tôi trơ trọi đứng giữa, nhìn mà tuyệt vọng”.

Trong tâm thức người Việt Nam, không có cha, hay mất cha là một tổn thất rất lớn: thiếu một chỗ dựa, một sự nâng đỡ “con không cha như nhà không nóc”, thiếu một tình thương và một lòng tin.

Tuy sống với mẹ, nhưng Q.T lại không được hưởng tình thương yêu chăm sóc của mẹ. Dường như đối tượng đầu tư cảm xúc của người mẹ này không phải là đứa con côi cút đáng thương mà là những người đàn ông đủ loại nhằm đáp ứng một nhu cầu tình dục. không thể kiềm chế. Nguồn lực nâng đỡ duy nhất còn lại là ông ngoại, nhưng tình thương yêu cuối cùng này cũng không còn nữa. “…Tôi trơ trọi đứng giữa, nhìn mà tuyệt vọng”.

Song, một tác nhân nữa càng làm cho stress gia tăng là sự mắng nhiếc của người mẹ: “Sao mày đần thế, sao mày hãm thế”. giống nhừ những trái bom làm sập đổ hoàn toàn lòng tự tin (self–esteem) vốn rất mong manh vì đã không có tình yêu thương nào. Lòng tự trọng đã bị thương tổn nặng; những lời mắng nhiếc hàng ngày của người mẹ đã tạo ra một mặc cảm tội lỗi: “… và đừng cứu tôi. Nếu tôi có sống đi chăng nữa cũng chỉ là cái gai di động trước mắt mọi người…”

Q.T đã hình thành một ý tưởng tự sát từ lâu, ít ra là một tháng trước (hôm rủ bạn đi mua thuốc bả chuột). Song, điều bất hạnh là hành vi này đã không được phát giác và cảnh giác.

Rõ ràng sự tan vỡ gia đình, tình yêu thương bị tước đoạt, sự mất lòng tin và lòng tự trọng đã tạo ra một stress mãn tính và dẫn tới hành vi tự sát: đó là một bằng chứng của ứng phó tiêu cực (negative coping), tìm đến cái chết, một hành vi tự huỷ hoại, để trốn thoát (Trích tài liệu “Stress & đời sống”, GS Đặng Phương Kiệt, 1997).

Trích từ cuốn sách Tâm lý trị liệu (Ứng dụng trong lâm sàng và tự chữa bệnh), Nguyễn Công Khanh

This entry was posted in Sức khỏe tâm thần trong cuộc sống, Trầm cảm. Bookmark the permalink.