MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ CÓ THỂ DẪN ĐẾN TÌNH TRẠNG RỐI NHIỄU TÂM LÝ NƠI TRẺ EM

Gọi là những yếu tố nguy cơ tất cả những điều kiện, yếu tố có ở trẻ hoặc ở môi trường sống đưa đến nguy cơ mắc bệnh về tâm trí cao. Tóm tắt những yếu tố nguy cơ đó là:

– Về phía trẻ: tình trạng non nớt, chưa thành thục, sớm phải chịu đựng những khổ tâm, đẻ non, sinh đôi, có bệnh về cơ thể sớm, chia li sớm, bệnh cơ thể mãn tính…

– Về phía gia đình: chia li với cha mẹ, cha mẹ li hôn, gia đình thường xuyên bất hòa, cha mẹ nghiện rượu, cha mẹ có bệnh mãn tính, chỉ có một cha hoặc mẹ, cha mẹ chết…

– Về xã hội: sự khốn khó về kinh tế – xã hội, hoàn cảnh di cư…

Những yếu tố trên có thể không độc lập mà kết hợp lại với nhau và gây hậu quả mạnh hơn. Ví dụ, sự khốn khó về kinh tế – xã hội đi kèm với chưa thành thục dễ làm trẻ mắc bệnh tâm trí hơn là chỉ một yếu tố.

Tuy nhiên, bản chất của những yếu tố, tình huống gây ra bệnh là khác nhau. Có thể phân biệt:

– Những yếu tố cục bộ và có thể chỉnh sửa được như nằm viện, chia li với cha mẹ, cha mẹ chết, có thêm em bé, chuyển chỗ ở sang một nơi hoàn toàn xa lạ…

– Những tình huống mãn tính và kéo dài như thiếu thốn về kinh tế – xã hội, không khí gia đình không lành mạnh, tình trạng chưa thành thục, bất thường hoặc có bệnh về cơ thể…

Tuy vậy, phần nhiều các nghiên cứu xác định hậu quả của những yếu tố nguy cơ là nghiên cứu quá trình phát triển đã qua. Trong khi đó những nghiên cứu dự đoán trước hậu quả của các yếu tố nguy cơ lại không cho kết quả như mong muốn. S. Escalona khi nghiên cứu về ảnh hưởng của hoàn cảnh kinh tế – xã hội đối với sự hình thành tình trạng bệnh tâm lí đã nói: Không có bất cứ một yếu tố đặc biệt nào có thể nói trước được tình trạng tâm bệnh về sau. Nhìn chung, sinh ra và được nuôi dưỡng trong hoàn cảnh khốn cùng đe dọa sự phát triển bình thường. Tuy nhiên, không thể tranh cãi được là phải để lại hai vấn đề quan trọng. Thứ nhất là, tuyên bố là có tính thống kê mà không phải là từng cá nhân. Không thể nói trước cái gì sẽ bị rối loạn hoặc được miễn trừ, cái gì ít đặc trưng hơn hoặc nói trước được về tính trầm trọng của bệnh. Thứ hai, người ta không biết ở tuổi nào và ở giai đoạn nào sự nghèo khổ có ảnh hưởng đến hoạt động tâm tư của trẻ.

Như vậy, không thể quy kết rằng tất cả những trẻ em được sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh nghèo khó, khốn cùng đều sẽ rối loạn, có bệnh về tâm lí. Hơn nữa, với trẻ nhỏ không nên nói trước về những không thích ứng về sau.

Như vậy, có thể nói rằng rất cần phải nghiên cứu những yếu tố nguy cơ bởi cần làm rõ những yếu tố, nhất là yếu tố tâm lí xã hội, là nguyên nhân của những đau khổ, bất thường về tâm lí. Tuy nhiên, không thể tiên lượng một cách chủ quan, tùy tiện về ảnh hưởng của yếu tố nguy cơ đối với một đứa trẻ. Ngoài vấn đề về ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ còn phải tính đến những vấn đề về khả năng đối mặt với hoàn cảnh, sức chịu đựng và tính dễ bị tổn thương, vị trí của trẻ trong gia đình…

Không đi sâu vào các yếu tố nguy cơ về mặt sinh lí, sau đây đề cập đến một số yếu tố nguy cơ đến từ môi trường sống, đặc biệt là từ môi trường gần gũi nhất với trẻ là gia đình, có thể dẫn đến rối loạn tâm lí ở trẻ em.

Vị trí của trẻ em trong gia đình

Đây là một vấn đề khá phức tạp, liên quan đến cha mẹ và ảnh hưởng của họ đối với con cái.

Là con, đứa trẻ ngay từ khi chưa sinh ra cho đến lúc ra đời chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của những nhu cầu, mong muốn, ước mơ… của mẹ, của cha và của cả cha và mẹ. Mong muốn về đứa con mình sẽ có của cha mẹ bị chi phối bởi nhiều yếu tố đôi khi họ không thực sự nhận thức rõ: muốn có đối tượng để thương yêu muốn duy trì nòi giống, chứng tỏ khả năng sinh đẻ, khẳng định vị thế của người lớn, muốn được vây quanh, muốn có con trai, muốn có con gái, muốn có con với một người xác định, được làm cái mà cha mẹ muốn, là cách chữa trị một bất hòa của cha mẹ, để thay thế một đứa con đã mất… Tùy vào mong muốn này mà vị trí của trẻ trong gia đình sẽ như thế nào. Bản thân đứa trẻ, dù là vô thức hay có ý thức, với khả năng tâm lí của mình phải khuôn mình vào để đáp ứng những mong muốn này của cha mẹ. Đứa trẻ phải tìm chỗ của mình trong tâm lí của cha, của mẹ và của cặp cha mẹ và đồng thời của cả gia đình nó. Nếu đứa trẻ không giống với đứa con mong ước mà cha mẹ lại không thể điều chỉnh để thích ứng, để thừa nhận nó thì có thể trở thành một trong những nguyên nhân làm cho phát triển tâm lí của trẻ thiếu hài hòa hoặc rối loạn.

Chức năng làm cha mẹ rất phức tạp, sự biểu hiện của nó rất đa dạng. Cha mẹ sinh ra trẻ, nuôi dưỡng trẻ thành người và truyền cho trẻ những đặc trưng, bản sắc của gia đình, dòng họ, dân tộc…Ở những hoàn cảnh khác nhau, nền văn hóa khác nhau, các chức năng cơ bản của cha mẹ không phải lúc nào cũng luôn đi cùng nhau. Trường hợp con nuôi thì cha mẹ không phải là người sinh ra, cha mẹ đẻ lại không nuôi dưỡng trẻ và không thực hiện chức năng cha mẹ… Làm cha mẹ không hề dễ dàng, những khó khăn khi thực hiện chức năng làm cha mẹ cũng là cái tạo ra tính phức tạp của nó. Và có thể khẳng định rằng: gia đình giữ hai trò cơ bản đối nới sự phát triển bình thường cũng như với việc xuất hiện những yếu tố tâm bệnh lí ở trẻ.

Thiếu hụt tình cảm

Thiếu hụt tình cảm ở trẻ em đã được nhiều nghiên cứu minh chứng cho tầm quan trọng của vấn đề này đối với sự phát triển tâm lí không bình thường ở trẻ. Ngày nay, vấn đề trẻ thiếu hụt tình cảm của mẹ rất được quan tâm và giữ vị trí ưu tiên hàng đầu.

Thiếu hụt tình cảm có nhiều loại, khác nhau về bản chất lẫn hình thức. Có thể nói đến ba loại sau:

– Không đủ quan hệ tương tác mẹ – con do vắng mẹ hoặc người thay thế mẹ.

– Gián đoạn quan hệ mẹ – con do nguyên nhân chia li.

– Bất thường về phía người mẹ (mẹ lẫn lộn, rối loạn, không có khả năng…).

Thiếu hụt về tình cảm đưa đến những hậu quả khác nhau tùy theo bản chất của thiếu hụt (không đủ, bất thường hoặc gián đoạn) và theo thời gian kéo dài, theo tuổi của trẻ, theo chất lượng của chức năng làm mẹ. Những khác biệt này tạo nên sự khác nhau về kiểu loại phát triển của trẻ.

Thiếu hụt do không đủ quan hệ tương tác mẹ – con: trẻ cô đơn

Spitz đã so sánh sự phát triển tâm lí – tình cảm của hai loại trẻ: một loại là trẻ có mẹ tội phạm bị giam giữ, trẻ được mẹ chăm sóc; những đứa kia là ở trong trại mồ côi, được chăm sóc tốt về vệ sinh ăn uống nhưng thiếu sự tiếp xúc của con người phần lớn thời gian trong ngày. Phản ứng quan sát được ở loại trẻ thứ hai khác hẳn ở loại trẻ thứ nhất. Phản ứng kiểu này chỉ xuất hiện ở loại trẻ thứ nhất sau khi bị chia li với mẹ.

Spitz đã mô tả ba pha phản ứng: pha khóc vô cớ; pha gào rú rên rỉ, mất trọng lượng và dừng phát triển; pha thu mình và từ chối tiếp xúc, dẫn đến những biểu hiện trầm cảm vắng mẹ.

Những nghiên cứu về trẻ nhỏ hiện nay càng khẳng định sự nguy hiểm của thiếu hụt về tình cảm với mẹ và cố gắng tạo thuận lợi cho trẻ tiếp xúc với mẹ, kể cả khi trẻ bị bệnh phải nằm viện dài ngày. Bệnh nằm viện (hospitalisme) đã được giảm đi đáng kể.

Ngày nay lại có những gia đình không quan tâm đầy đủ, cẩu thả trong quan hệ với trẻ, dẫn tới trẻ cô đơn trong gia đình mà đôi khi một thời gian dài không được phát hiện.

Ngoài ra, có thể gặp ở một số bệnh viện hoặc ở gia đình những trường hợp trẻ thiếu hụt tình cảm một phần, mắc bệnh nằm viện một phần, cô đơn một phần. Trẻ nhỏ này, từ khoảng 5 – 6 tháng đến 2 – 3 tuổi, được G. Appel miêu tả năm 1982 – 1983, biểu hiện một tổng thể các triệu chứng:

– Rối loạn kiểu tâm thể và/hoặc nhiễm khuẩn: viêm tai, viêm mũi họng, cúm, nôn trớ. Đôi khi quan sát thấy chậm phát triển về chiều cao – cân nặng.

– Trương lực của trẻ đặc biệt với kiểu cơ thể chia tách, tăng trương lực ở nửa trên, giảm trương lực ở nửa dưới. Các chi trên ở tình trạng duỗi cơ, tay nắm chặt (thường là ngón cái ở phía trong nắm tay, dấu hiệu rất đặc trưng của tình trạng thiếu kích thích về cầm nắm, chơi với các đồ vật). Các chi dưới giảm trương lực, quay ra ngoài, đôi khi duỗi ra; thiếu vận động đạp, rất đặc trưng cho trẻ ở tuổi này khi chơi.

– Trẻ mút tay trong một thời gian dài.

– Nhìn chập chờn và khó khăn khi phải tập trung vào giao tiếp với người lớn.

– Dễ dàng bề ngoài trong tiếp xúc, thích được người lớn bế, ôm nhưng quan hệ lại có tính dửng dưng, không do dự ngập ngừng trước người lạ.

– Sau vẻ bề ngoài dễ dàng tiếp xúc, thấy có sự thụ động, chịu đựng tương tác. Ngoài vẻ cởi mở, đứa trẻ không tích cực trong trao đổi qua lại với người khác ít có hoặc không có biểu hiện khám phá khuôn mặt của người lớn như ở trẻ hài nhi bình thường. Không chịu được hẫng hụt, trẻ có thể trở nên thất thường cáu kỉnh.

– Nếu như phát triển vận động (ngồi, bò, đi) nhìn chung là bình thường thì phát triển về xã hội gần như luôn chậm. Đặc biệt là chậm về ngôn ngữ (giữa 2 và 4 tuổi). Tương tác với những đứa trẻ cùng tuổi trong trò chơi nghèo nàn và dễ có những hành vi hung tính.

Nếu những nguyên nhân của tình trạng thiếu hụt này không được khắc phục thì về sau những trẻ này có thể mất hài hòa trong phát triển nhiều hơn, thậm chí có thể có nhiễu tâm hoặc trầm cảm.

Thiếu hụt tình cảm và cô đơn trong gia đình là một hình thức ngược đãi trẻ em, đòi hỏi những can thiệp y tế – xã hội thích hợp.

Gián đoạn quan hệ: chia li mẹ – con

Chia li mẹ – con là một sự kiện rất thường gặp trong cuộc sống hiện nay, mặc dù người ta đã biết những hậu quả đáng tiếc của nó. Bowlby đã mô tả ba giai đoạn phản ứng với chia li ở trẻ là:

– Phản kháng.

– Thất vọng.

– Dửng dưng.

Có thể giải nghĩa 3 giai đoạn này về mặt tâm lí như sau:

– Phản kháng: biểu hiện đau đớn và đau khổ do tình trạng chia li.

– Thất vọng: thể hiện sự thất vọng và tang tóc.

– Dửng dưng: tâm lí tự vệ và hình dung ra một hoàn cảnh khác.

Phản ứng này đặc biệt mạnh ở trẻ từ 5 tháng đến 3 tuổi. Chia li lặp lại cũng rất có hại bởi vì làm trẻ nhạy cảm cực độ và lo hãi thường trực, thể hiện bằng sự phụ thuộc thái quá vào môi trường. Ngoài ra, những biểu hiện có liên quan trực tiếp với chia li cũng được quan sát thấy, chủ yếu khi chia li kéo dài, đó là:

– Dừng phát triển tình cảm và nhận thức, chỉ số phát triển và chỉ số khôn giảm.

– Các rối loạn cơ thể: tăng khả năng nhiễm trùng, dễ mắc bệnh.

– Các rối loạn tâm thể: chán ăn, đái dầm, rối loạn giấc ngủ.

– Có triệu chứng trầm cảm.

– Ở trẻ lớn hơn: khó thích ứng với trường học, thường có rối loạn hành vi.

Sự tiến triển tùy thuộc vào độ tuổi lúc có chia li và sự kéo dài của tình trạng chia li.

Thiếu hụt do bất thường về gia đình

Ngoài hậu quả của thiếu vắng quan hệ hoặc chia li mẹ – con, gần đây các nghiên cứu về những gia đình sống trong những điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, những gia đình mắc bệnh về thể chất và tâm trí cho thấy tình trạng bất thường của gia đình có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển tâm lí của trẻ. Những trẻ được nuôi dưỡng trong tình trạng nhiều khốn khó kéo dài có nguy cơ cao về rối loạn tâm lí.

Chân dung của những gia đình này không giống nhau nhưng có thể đưa ra một số nét chung. Bao giờ cũng có tình trạng khốn khó kéo dài về điều kiện sống. Không có nghề nghiệp chắc chắn và ổn định. Đời sống trong quá khứ của cha và mẹ phức tạp, có đổ vỡ, đôi khi họ tạm thời sống cùng nhau. Thường có nghiện ngập, bạo hành trong các quan hệ của người lớn. Vị trí của người cha, người mẹ trong gia đình không bình thường. Đông con.

Sống trong những gia đình kiểu này trẻ hiếm khi phát triển bình thường. Thuở nhỏ thường hay có những triệu chứng của thiếu hụt một phần. Đôi khi có biểu hiện gắn bó mang tính lo âu. Thiếu chăm sóc và chậm phát triển thể chất là rõ ràng nhất.

Ở trẻ tuổi mầm non và tuổi đi học, ngôn ngữ bị rối loạn và đôi khi có những chậm trễ đáng kể: rối loạn nói rành mạch, rất nghèo nàn về vốn từ, sai ngữ pháp. Luôn có những khó khăn về trí tuệ. phần lớn trẻ trí tuệ ở mức ranh giới chậm hoặc chậm nhẹ (55 < QI < 85) trong khi phát triển ban đầu là bình thường. Theo tuổi, những rối loạn hành vi ngày càng thường xuyên hơn, có ức chế và/ hoặc thu mình hoặc có hành vi chống đối xã hội. Trẻ luôn thất bại trong học tập.

Loạn tâm trẻ em đặc biệt không xuất hiện trong số những trẻ này, trái lại bệnh về hành vi, rối loạn loại chuyển sang hành động là thường xuyên. Kiểu triệu chứng này kết hợp với mất hài hòa về nhận thức gây ra bệnh ranh giới đã trình bày ở cuối chương 2.

Tiến triển trong tương lai có nguy cơ trở thành trẻ em hư, có nhân cách bệnh hoạn, không thích ứng xã hội. Nghiên cứu hoàn cảnh sống của những thanh thiếu niên có hành vi lệch chuẩn cho thấy phần lớn có hoàn cảnh gia đình có vấn đề.

Sự bất thường về gia đình được coi là hình thức đặc biệt của ngược đãi trẻ em, cần phải can thiệp chữa trị cho trẻ em và can thiệp y tế – xã hội cho gia đình. Sự bất thường, bỏ mặc này theo nhiều tác giả có thể dẫn tới tử vong ở trẻ cao hơn các nguyên nhân khác.

Stress và chấn thương tâm lí

– Chấn thương tâm lí

Chấn thương tâm lí là trạng thái bàng hoàng, chấn động làm tổn thương lớn tới tâm lí – tình cảm, thường gắn với một sự kiện đặc biệt có thể dẫn đến cái chết hoặc đe dọa về cái chết đối với chủ thể hoặc người thân.

Những sự kiện gây chấn thương có thể là thảm họa thiên nhiên (động đất, cháy, lụt lội bất ngờ…), thảm họa con người (tai nạn máy bay, tàu hỏa, ô tô), hành động tội phạm (hành động khủng bố, bắt con tin, bắt cóc, xâm hại) hoặc hoàn cảnh chiến tranh. Ở trẻ em, những sự kiện gây chấn thương là những sự kiện trong đó trẻ em chứng kiến những thảm họa đến với người thân như bị tai nạn, bị thương nặng, cháy nhà…

Chứng kiến những sự kiện này, trẻ em ngay lập tức có phản ứng, đó là tình trạng strees cao độ. Trẻ kích động, rối loạn hoặc sững sờ rất mạnh và thời gian sau đó có tình trạng lo lắng nhiều, khó ngủ, có ác mộng, thu mình hoặc kích động. Tình trạng này có thể là tạm thời (vài ngày cho đến 4 tuần là tối đa) rồi mất đi, nhưng cũng có thể tồn tại dai dẳng dưới hình thức stress sau chấn thương.

– Tình trạng stress sau chấn thương ở trẻ em

Tình trạng stress sau chấn thương được tính từ những tuần lễ sau chấn thương nặng mà trẻ là nạn nhân hoặc phải chứng kiến. Cần phải đánh giá bản chất của chấn thương, cường độ và độ dài thời gian biểu hiện, sự lặp lại tình trạng, tuổi và giới tính của trẻ (trẻ gái biểu hiện nhiều triệu chứng hơn trẻ trai), mức độ thành thục tâm lí, chất lượng của các quan hệ gia đình, tình trạng kinh tế – xã hội và văn hóa của môi trường sống, phản ứng của từng trẻ hoặc của nhóm trẻ (ví dụ khi cả lớp bị chấn thương do tai nạn ô tô…).

Theo các kết quả khảo sát, tỉ lệ mắc stress sau chấn thương ở trẻ em Mỹ khoảng 1 – 14% và tỉ lệ mắc cho đến 18 tuổi khoảng 6%.

Cũng như ở người lớn, tình trạng này có ba biểu hiện chính:

+ Hội chứng nhắc lại.

+ Những biểu hiện tránh né.

+ Những triệu chứng tăng phản ứng của thần kinh thực vật ở trẻ.

Những rối loạn này kéo dài hơn 1 tháng và bắt đầu trong vòng 3 tháng sau chấn thương, dẫn đến tình trạng đau khổ tâm lí cản trở khả năng thích ứng.

Hội chứng nhắc lại

Biểu hiện ở trẻ:

Chơi những trò chơi nhắc lại một phần hoàn cảnh diễn ra chấn thương (trò chơi ô tô bị tai nạn, trò chơi búp bê…)

+ Vẽ tranh thể hiện lại hoàn cảnh gây chấn thương.

+ Những ác mộng lặp lại hoàn cảnh gây chấn thương.

+ Có phản ứng không phù hợp khi kể chuyện lại hoàn cảnh gây chấn thương hoặc khi kể chuyện tưởng tượng.

Những biểu hiện tránh né

+ Từ chối đi một kiểu phương tiện vận tải nào đó.

+ Tránh né con đường hoặc địa điểm giống hoặc có thể dẫn tới nơi xảy ra chấn thương.

Không chịu bỏ đi những hình ảnh gắn với một lo hãi chia li

Tăng phản ứng thần kinh thực vật

+ Khó ngủ, thức dậy giữa đêm.

+ Cáu kỉnh, dễ nổi giận.

+ Khó tập trung làm kết quả học tập kém.

+ Tăng kích động.

+ Phản ứng giật mình thái quá với tiếng ồn, với những kích thích bất ngờ.

Chấn thương tâm lí có thể đến một cách bất ngờ, do những tình huống đột xuất và ảnh hưởng đáng kể đến tâm lí của trẻ. Khi trẻ có chấn thương và stress cần tiến hành chữa trị sớm.

1 2. Cách phòng ngừa rối loạn tâm lí ở trẻ em tuổi mầm non

Mỗi loại rối loạn tâm lí ở trẻ em có thể do nhiều yếu tố khác nhau quy định. Vì vậy một cách cụ thể, chi tiết thì mỗi kiểu rối loạn lại có những cách phòng ngừa riêng. Ở đây đề cập đến một số vấn đề chung của phòng ngừa rối loạn tâm lí cho trẻ, đặc biệt là trẻ ở tuổi mầm non.

  1. Phòng ngừa trong tâm bệnh học trẻ em là gì?

Phòng ngừa trong tâm bệnh học trẻ em được hiểu là những cách thức mà xã hội, người lớn dùng để ngăn ngừa, chống lại sự xuất hiện và phát triển của những bệnh, rối loạn về tâm lí ở trẻ em.

Có ba mức độ phòng ngừa

Mức thứ nhất: giáo dục, thông tin, thu xếp môi trường sống của trẻ em (gia đình nhà trường), tư vấn về mặt di truyền và dinh dưỡng, cách chăm sóc vệ sinh cơ thể và tâm trí nhằm ngăn cản sự không thích ứng về mặt tâm lí – xã hội của trẻ và giảm nguy cơ mắc bệnh về tâm trí.

Mức thứ hai: thông qua những chẩn đoán sớm và chữa trị các triệu chứng ban đầu, cố gắng tránh sự phát triển bệnh về tâm trí ở trẻ em.

Mức thứ ba: khi tâm bệnh đã phát triển thì ngăn cản không cho bệnh nặng lên bằng các cách chữa trị hiệu quả nhất có thể và không cho bệnh tái phát lại bằng cách theo dõi lâu dài với sự can thiệp của các nhà chuyên môn và của gia đình để cố gắng loại trừ những yếu tố làm cho tâm bệnh phát triển.

Như vậy, đây là công việc khá nặng nề và phức tạp đòi hỏi sự tham gia của nhiều lực lượng, cả về con người lẫn về phương tiện.

  1. Cách phòng ngừa rối loạn tâm lí ở trẻ em tuổi mầm non

Trong khuôn khổ của giáo trình, với trẻ tuổi mầm non, có một số cách phòng ngừa rối loạn tâm lí sau đây dành cho cha mẹ của trẻ và cho các giáo viên mầm non:

Cách phòng ngừa dành cho cha mẹ của trẻ

Như đã nói ở trên, gia đình giữ vai trò cơ bản đối với sự phát triển bình thường hay bệnh lí của trẻ em. Vì vậy, phòng ngừa từ gia đình là rất quan trọng. Cha mẹ có thể sử dụng một số cách sau để phòng tránh sự xuất hiện và phát triển rối loạn tâm lí của con em mình:

– Nâng cao hiểu biết về tâm bệnh trẻ em bằng cách tìm hiểu các vấn đề có liên quan đến rối nhiễu tâm lí ở trẻ em trên các tài liệu chuyên môn hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như sách, báo, đài truyền hình, internet.

– Người mẹ ngay khi biết mình có thai cần có chế độ dinh dưỡng phù hợp để thuận lợi cho sự phát triển bình thường về mặt thể chất của thai nhi, tránh sử dụng thuốc bừa bãi, tránh dùng các chất có thể ảnh hưởng đến thai nhi. Nên đến các cơ sở chuyên môn để xin tư vấn nếu thấy có vấn đề về thể chất, gây lo ngại về tình trạng phát triển bình thường của trẻ.

– Tránh những buồn khổ, lo âu, căng thẳng thái quá và kéo dài khi đang mang thai.

– Có thái độ sẵn sàng đón nhận trẻ ngay từ khi trẻ chưa chào đời và nhất là khi trẻ ra đời, thậm chí cả khi bé không như gia đình mong đợi về tình trạng sức khỏe cũng như về hình dáng bên ngoài.

– Khi trẻ ra đời, cha mẹ và gia đình tạo điều kiện thuận lợi nhất có thể về mặt vật chất và môi trường sống cho trẻ. Đặc biệt quan trọng là người mẹ phải quan tâm đến con, yêu thương gắn bó và hết lòng vì con.

– Thiết lập quan hệ tình cảm tốt giữa cha mẹ và bé. Cả cha và mẹ cùng yêu thương, chăm sóc bé. Tính chất của quan hệ giữa cha mẹ và bé ngay từ khi trẻ còn rất nhỏ đã có thể ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí bình thường hay không bình thường của trẻ. Những đứa trẻ bị bỏ rơi, bị hành hạ không thể có được sự phát triển bình thường.

– Tránh xung đột lâu dài giữa cha và mẹ. Tạo cho trẻ môi trường tâm lí – tình cảm hài hòa.

– Trong chăm sóc và giáo dục trẻ cha mẹ cần tránh thái độ độc đoán, chuyên quyền một cách cực đoan. Phải biết quan sát và lắng nghe các diễn biến, bộc lộ tâm lí của trẻ. Cố gắng thu xếp thời gian và công việc để chăm sóc trẻ, chơi với con, trò chuyện, chia sẻ cùng con.

– Cha mẹ cần nhận biết sớm những bất thường trong tính cách và hành vi của con mình và kịp thời đưa trẻ đến các cơ sở chuyên môn để có những tư vấn và chữa trị thích hợp. Nên thường xuyên trao đổi với các giáo viên dạy trẻ để nắm bắt thêm về tình hình của con ở trường.

– Khi nhà chuyên môn xác định trẻ có biểu hiện rối loạn tâm lí, cha mẹ cần có thái độ bình tĩnh, kiên trì và kết hợp tốt với nhà chuyên môn để hiệu quả can thiệp, chữa trị cho trẻ cao.

Cách phòng ngừa dành cho giáo niên

Các giáo viên mầm non là những nhà giáo dục tiếp xúc sớm nhất với trẻ sau gia đình của bé. Hiểu biết và ứng xử của giáo viên mầm non có ý nghĩa lớn đối với việc phát hiện và tư vấn cho cha mẹ cách ứng xử cần thiết khi giáo viên nhận thấy trẻ có biểu hiện bất thường về tâm lí để có thể cùng với gia đình phòng ngừa rối loạn tâm lí ở trẻ phát triển. Có thể nói với giáo viên mầm non phát hiện sớm những rối loạn tâm lí ở trẻ là một cách phòng ngừa. Để làm được việc này, giáo viên mầm non cần phải có kiến thức về tâm bệnh trẻ em và thực hiện những cách sau để phát hiện rối loạn tâm lí ở trẻ:

– Quan sát trẻ trong các hoạt động hàng ngày ở trường mầm non, chú ý đến đặc điểm hành vi và cảm xúc của trẻ.

Đặc điểm tâm lí của trẻ được thể hiện trong các hoạt động của các em. Người giáo viên quan tâm đến hành vi của trẻ sẽ nhận ra đặc điểm biểu hiện đời sống tâm lí bình thường hay không của trẻ. Một đứa trẻ có rối nhiễu tâm lí chắc chắn có những hành vi triệu chứng. Quan sát để nhận biết những hành vi này trong các hoạt động và sinh hoạt ở lớp mẫu giáo sẽ phát hiện được những bất thường của trẻ.

– So sánh các hành vi, biểu hiện cảm xúc giữa trẻ này và trẻ khác cùng độ tuổi.

Những trẻ em cùng độ tuổi có những đặc điểm chung của lứa tuổi. Những trẻ có bất thường về tâm lí sẽ có những biểu hiện bất thường, đặc biệt về nhận thức, tình cảm, giao tiếp… so với những trẻ khác cùng độ tuổi. Cần phân biệt những nét riêng của từng trẻ tạo nên bản sắc cá nhân và những cái không bình thường. Nếu có kiến thức về tâm lí học trẻ em và tâm bệnh học, người giáo viên sẽ phân biệt được những khác biệt này.

Phát hiện kịp thời, từ đó có ứng xử thích hợp tức là giáo viên đã góp phần ngăn ngừa rối loạn tâm lí ở trẻ phát triển.

Lược trích từ tài liệu: TÂM BỆNH HỌC TRẺ EM LỨA TUỔI MẦM NON

Tác giả: NGUYỄN THỊ NHƯ MAI

Read more: http://www.goctamly.com/2015/08/mot-so-yeu-to-nguy-co-co-dan-en-tinh.html#ixzz46ntWLRom

This entry was posted in Khó khăn trong mối quan hệ gia đình, Sức khỏe tâm thần trong cuộc sống. Bookmark the permalink.