Ràng buộc kép

  1. Ví dụ minh họa

Người mẹ tặng cho con trai 40 tuổi 2 cái cà vạt, một màu đỏ và một màu xanh. Thứ 7 tiếp theo, đứa con tới, mang cà vạt màu xanh để làm hài lòng người mẹ. Người mẹ nói to lên ngay ở cửa, với chút trách móc trong ánh nhìn: À, mẹ biết ngay là con không thích cái màu đỏ.

Logic của vấn đề: nếu anh ta mang cái màu xanh, thì lẽ ra anh ta phải mang cái màu đỏ. Nếu anh ta mang cái màu đỏ, thì lẽ ra anh ta phải mang cái màu xanh. Đứa con trai ở trong cái bẫy, nó mang cái gì nó cũng thua – không làm hài lòng người mẹ.

(Chiến thuật này rất tốt nếu người ta muốn để ai đó trong sự bối rối và áp đặt quyền lực lên họ. Chỉ việc tạo ra xung đột như vậy ở họ.)

Ràng buộc kép được phát hiện bởi Gregory Bateson và đồng sự. Trong quá trình nghiên cứu trên người TTPL, họ phát hiện ra bệnh này là kết quả của một hệ thống giao tiếp trái chiều ở trong gia đình.

Bateson đưa ra 1 ví dụ, đó là một chàng trai trẻ, anh phải ở bệnh viện điều trị về căn bệnh TTPL. Mẹ đến thăm anh. Anh hài lòng khi gặp mẹ và ôm lấy mẹ, và đột nhiên mẹ trở nên cứng nhắc. Anh rút tay lại và mẹ anh hỏi: “con không yêu mẹ nữa à?” Và chàng trai đỏ mặt, và mẹ thêm vào “con yêu, con không phải bối rối thế, và không phải sợ sệt về cảm xúc của con”. Bệnh nhân chỉ  ở lại vài phút với mẹ, và khi bà đi, bệnh nhân lập tức tấn công người y tá và chịu trói lại sau đó.

Cuộc gặp ngắn ngủi thể hiện hiện tượng ràng buộc kép. Những tình huống tương tự như vậy cũng được quan sát thấy trong các mối quan hệ con người, con người, trong gia đình, trong môi trường làm việc. Nó rất hiệu quả và nó vô hình đối với những người đang diễn nó.

Trong gia đình trẻ TTPL, nó thường nhận cư xử rất kỳ quặc và đặt nó trong tình huống không thể có hành vi gì đúng và phù hợp với các ràng buộc mà nó dưới quyền. Với sự lặp đi lặp lại, các giao tiếp mang tính vi phạm nhân phẩm khiến chúng học chẳng học được khởi xướng, sáng kiến nào của riêng mình và nhìn thế giới này cũng dưới dạng ràng buộc kép.

Nhóm của Bateson quan sát thấy, những gia đình không có ràng buộc kép, con cái của họ sẽ sáng tạo hơn.

 

  1. Ràng buộc kép, giữa 2 lối rẽ và lựa chọn

(Khi người ta chỉ có 1 lựa chọn – người ta ở trong tình huống cho trước, bị máy móc thực hiện

Khi người ta có 2 lựa chọn, người ta ở trước xung đột: bánh ngọt hay bánh mì

Sự tự do thực sự khi người ta có ít nhất 3 lựa chọn

Khi tự do lựa chọn, mỗi lựa chọn đều là thắng; còn trong xung đột, ngay cả khi lựa chọn là thua, thì vẫn có giải pháp thắng; trong xung đột, người ta thắng ở bình diện này, thua ở bình diện khác.)

Trong ràng buộc kép, dù chọn là gì thì nạn nhân vẫn thua. Không có khả năng chọn lấy 1 giải pháp được hài lòng. Ví dụ chàng trai trên, lựa chọn là giữa chấp nhận thông điệp không lời của mẹ khiến anh hiểu “mẹ không yêu con” hay để người mẹ trong tình huống bất tiện khi từ chối sự dịu dàng với anh.

Anh có 1 lựa chọn không tốt giữa 2 ý nghĩa “mẹ không yêu mình” hay “mình không yêu mẹ”.

Hơn nữa, trong các thông điệp trái chiều và tiêu cực, ràng buộc kép rất thường đi kèm một thông điệp tiêu khách nhằm vào bản sắc cá tính của nạn nhân. Đó là, nó dẫn tới việc nạn nhân phụ thuộc đó luôn trong cái sai, rằng họ là nguyên nhân của vấn đề.

Thông điệp này được hiểu như là: mày là tồi, mày chả có ý nghĩa gì, mối quan hệ này không tốt là do mày, mày không biết quan tâm tới mẹ…

  1. 6 thành phần của một thông điệp kép

  • Mối quan hệ giữa 2 người là mạnh: cha mẹ – con, mối quan hệ trên dưới trong quân sự, mối quan hệ giáo viên – học sinh.
  • Người ở vị trí quyền lực đưa ra 2 kiểu thông điệp: bằng lời và không bằng lời (con đừng đi chơi xa quá / con đừng quanh quẩn ở chân mẹ thế chứ; hay “mẹ muốn dịu dàng với con’ nhưng lại với thái độ cứng nhắc và nghi ngờ, hay nói là “đừng làm như vậy” nhưng đồng thời với thông điệp không lời “đừng khiến mẹ nghĩ con không yêu mẹ”)
  • Người phụ thuộc không có khả năng giao tiếp với thông điệp kép: họ không thể nói “con cảm thấy nhập nhằng bởi 2 thông điệp trái chiều này” hay “con đang ở trong ràng buộc kép”. Lý do: hoặc là họ không có quyền, không được phép. Hoặc tình huống quá nhập nhằng đến nỗi họ không thể giao tiếp, không biết làm gì, bị rối loạn, không diễn đạt tình huống bằng lời được.
  • Người ở thế quyền lực thêm vào mệnh đề tiêu cực gồm 3 yếu tố như sau: “con không thể rời bỏ nhóm/gia đình”, “nếu con rời bỏ, nghĩa là con không yêu mẹ”, “nếu con làm việc X, con vi phạm nguyên tắc khác của chúng ta”. Mệnh đề này nhằm vào nhân phẩm của nạn nhân, lên cái họ là mà không phải là cái họ làm. Ở đó có sự nhập nhằng ở mức độ logic.
  • Đó là một trải nghiệm lặp đi lặp lại nhiều lần: “con ngu thế”, “sau tất cả những gì mẹ làm cho con…” “thế là không tốt” , “đừng dại dột thế”
  • Sau cùng, sự lặp lại cũng không còn cần thiết nữa: nó thành những câu nói ảo giác trong đầu họ một cách tự động; hoặc họ luôn có suy nghĩ rằng người ở vị trí quyền lực muốn làm đau họ.

 

  1. Nhận diện ràng buộc kép

Các câu hỏi kiểu “con không làm…?”

  • Con không yêu mẹ?
  • Con không muốn thành công?
  • Con không biết điều gì tốt hơn thế à?
  • Con không muốn làm mẹ vui?
  • Con không muốn vào được trung học à?

Các câu hỏi kiểu “con không thể…”

  • Con không thể làm gì tốt hơn à?
  • Con không thể làm gì cho mẹ à?
  • Con không thể nghĩ đến điều gì khác à?
  • Con không thể tự nghĩ à?
  • Con không thể làm điều gì tốt à?

Các câu hỏi liên quan “tại sao?”

  • Tại sao con muốn làm mẹ buồn?
  • Tại sao con suốt ngày thất bại?
  • Tại sao con độc ác đến thế?
  • Tại sao con lại quyết định thay cho mẹ con?
  • Tại sao mẹ phải cố gắng vì con?
  • Tại sao con chẳng làm điều gì thế?
  • Tại sao lại sinh ra con cơ chứ?

Và một câu hỏi dạng “nếu…”

  • Nếu con thực sự yêu mẹ, vậy thì con sẽ làm điều đó cho mẹ.

Ràng buộc kép có thể có dạng khẳng định:

  • Sau tất cả những gì mẹ làm cho con, ít nhất con cũng có thể làm ít nhất một việc cho mẹ chứ.

 

  1. Nguyên tắc giải quyết ràng buộc kép

  • Giảm cường độ hoặc thay đổi bản chất mối quan hệ gây ra ràng buộc kép
  • Phân biệt các thông điệp nhập nhằng
  • Đưa ra các thông điệp rõ ràng/ phản biện
  • Lọc hoặc làm trung tính các thông điệp tiêu cực về bản sắc
  • Tìm phương tiện để “thoát ra khỏi khuôn khổ”
  • Ngăn cản tình huống này trở thành trải nghiệm tái diễn

Ngô Thị Thu Huyền, dịch tổng hợp từ internet

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Ý thức và vô thức, Nghệ thuật tư duy và Cơ chế vận hành tâm trí, Tôi và mối quan hệ với bên ngoài (công việc, xã hội), Tôi và mối quan hệ với bản thân mình. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.