Yếu tố alpha, yếu tố beta và chức năng alpha

Chức năng alpha là một tiến trình tâm trí hóa thế giới. Đó là tiến trình suy nghĩ (tư duy), đi qua các kinh nghiệm giác quan, đạt tới hình dạng của tâm trí về kinh nghiệm đó. Bion triển khai thuật ngữ này như sau:

  1. Có các yếu tố có thể được chủ thể bắt giữ lấy, như là các hiện tượng nào đó. Những yếu tố đó gọi là các yếu tố alpha.
  2. Có những yếu tố không thể bắt giữ được, những yếu tố đó mang tới một giá trị nào đó cho chủ thể, và vẫn tiếp tục tác động tới chủ thể. Đó là các yếu tố beta

Các yếu tố beta rất gây ấn tượng về mặt ý nghĩa, các yếu tố alpha là các yếu tố mang tính ý nghĩ. Đó là một sự loại trừ khá cổ điển, nhưng cách tiếp cận của Bion là suy nghĩ về sự biến đổi beta sang alpha.

Sự biến đổi này gọi là chức năng alpha. Một khi mà chủ thể sở đắc được chức năng này, người ta có thể thỏa thích sử dụng nó. Nhưng chức năng này không phải là bẩm sinh, nó là việc học được, thu lượm được. Chúng ta sẽ quay trở lại với chức năng đó sau, còn bây giờ, chúc ta nói tới cái gọi là không-biến-đổi-được.

Điều khủng khiếp không có tên gọi

Thứ mà không thể tâm trí hóa bởi chức năng alpha sẽ được lưu giữ dưới dạng khó tả, không được biểu tượng hóa. Các yếu tố beta là độc hại cho tâm trí, gây chịu đựng mà người ta không biết người ta chịu đựng điều gì. Nó xâm chiếm lấy tâm trí, phá hủy tâm trí từ từ.

Các yếu tố này mang tính khủng bố bởi vì nó không có tên gọi. Để có thể gọi tên một nỗi đau khổ, thì đó là lúc người ta có thể đương đầu với nó rồi. Khi không thể đối mặt với điều khủng khiếp không có tên gọi, thời điểm đó chỉ có thể nói về sự đáng ngờ nào đó. Giống như ở tình huống Lovecraft, những kẻ quỷ quyệt khiến cho người ta phát điên, bởi vì hình dạng của nó vượt qua khả năng hiểu của lý trí. Hãy xem những điều này như là sự tương đương với việc làm bùng nổ tâm trí.

Nhưng tồn tại một tiến trình cho phép quản lý các yếu tố còn chưa bắt giữ đó được.

Sự bài tiết hay sự phóng chiếu trong tâm trí theo W.R.Bion

Giống như bất kỳ một bộ máy tiêu hóa này, những điều không nuốt nổi sẽ được thải lại, nôn ra. Đó là tiết trình sống. Freud đã gọi tên trong khi phân tâm Chủ tịch Schreber tiến trình đó là phóng chiếu. Tồn tại một khả năng nôn về mặt tâm trí. Một biểu tượng mà người ta không dám gán cho bản thân mình (ví dụ, tôi ghét anh ta) có thể được phóng chiếu lên một người nào khác (chính anh ta ghét tôi). Đó là một ảo tưởng, tất nhiên rồi, ảo tưởng nhằm vào việc gán cho người khác cái thứ thực ra thuộc về mình. Một hiện tượng mà người ta dễ nhận ra ở tuổi vị thành niên nhưng đồng thời cũng tồn tại ở mọi lứa tuổi khác và ở mọi người.

M.Klein đã phát triển thuật ngữ đồng nhất phóng chiếu. Trong phóng chiếu, người ta ném vào một góc điều gì đó và người ta không nói về nó nữa. Nhưng trong đồng nhất phóng chiếu, điều không thể biểu tượng hóa trở nên vô cùng đau khổ khi nó phải tồn tại ở trong mối liên hệ, theo cách cộng sinh, với người mà có xu hướng hợp nhất với họ. Đó là một tiến trình tâm bệnh tùy theo tần suất sử dụng. Người ta nhìn thấy những điều beta làm ô nhiễm tâm trí, bởi vì nó không thể nắm bắt, nó khó tả. Nếu nó vẫn ở đó, nó phá hủy tất cả. Như vậy, cần phải bài tiết nó, phóng chiếu nó. Bằng đồng nhất phóng chiếu, chủ thể bài tiết lên người khác các yếu tố beta mà họ không thể bao chứa trong tâm trí họ. Sẽ là người khác phải chứa đựng nó. Người ta thậm chí có thể nói là yếu tố beta được chuyển sang bao chứa khác. Dần dần, chúng ta chạy trốn khỏi thuyết duy ngã để nhận ra vị trí của người khác trong việc duy trì đời sống tâm trí.

Mơ mộng

Ở trên, chúng ta đã nhắc tới M.Klein với thuật ngữ đồng nhất phóng chiếu như một tiến trình bệnh lý tùy theo mức độ sử dụng. Còn Bion, ông nhận ra sự đồng nhất phóng chiếu là bình thường trong mọi sự phát triển của con người.

Đứa trẻ đến với thế giới, nó bị quấy nhiễu bởi các giác quan, những điều khủng khiếp, như cái đói chẳng hạn. Những trải nghiệm này, nó không thể bao chứa nổi vì nó chưa đủ trưởng thành về bộ máy tâm trí, nó không thể làm ra tiến trình alpha. Vì vậy, sẽ cần người khác bao chứa những yếu tố này.

Người mẹ sẽ đến và nhận lấy đồng nhất phóng chiếu, và bằng khả năng mơ mộng, người mẹ nghĩ rằng những cảm giác này là dành cho cô ấy, để đứa trẻ có thể sử dụng lại nó một cách thứ phát. Cũng giống như những con chim sẻ, người mẹ nghiền nát thức ăn trước khi cho chim con ăn. Đứng trước một trải nghiệm đói, người mẹ sẽ đến làm dịu bớt sự khủng khiếp này bằng lời nói: “Ồ, con đói hả, con muốn ăn hả”. Người mẹ sẽ đưa ra ý nghĩa cho thực nghiệm cơ thể, người mẹ tâm trí hóa. Nếu người mẹ lại đi thay tã thay vào đó, thì tiến trình tâm trí hóa đó sẽ bị hỏng. Người mẹ phải triển khai theo một chức năng tương hợp (Stern) hay tấm gương (Winnicott), đó thậm chí là một điều bình thường, một điều tự nhiên.

Bộ máy tâm trí của đứa trẻ lớn lên trong một bầu không khí đủ an toàn, và nó sẽ thấy chức năng alpha của người mẹ bên trong nó. Nó có thể tự mình bắt đầu học cách chuyển hóa các kinh nghiệm. Sự đảo chiều của cái bên ngoài hướng tới bên trong, đó là nội chiếu, tiến trình được mô tả bởi Ferenczi.

Nhưng tuy nhiên, người ta không tâm trí hóa tự một mình mình. Cả cuộc đời này, người khác ở lại một vị trí thiết yếu trong công cuộc biểu tượng hóa. Một bộ mát tâm trí có thể không bao giờ chuyển hóa thành công một mình. Người ta cũng có thể thoáng thấy điều này – vị trí của người khác – trong tiến trình trị liệu.

Chuyển hóa và hẫng hụt

Theo Bion, các ý nghĩ tồn tại trước khả năng suy nghĩ. Xuất phát của các ý nghĩ là các ấn tượng giác quan hoặc các cảm xúc sống còn rất nguyên thủy. Trong từ ý nghĩa, Bion bao gồm cả các tiền thuật ngữ, các thuật ngữ, các ý nghĩ và các khái niệm.

Một tiền thuật ngữ (sự trông đợi bẩm sinh về bầu vú) được ghép với một hiện thực (trải nghiệm thực về bầu vú) và từ sự nhận biết thì sinh ra thuật ngữ. Khi tiền thuật ngữ gặp một hẫng hụt hay một hiện-thực-không-diễn-ra, thì giai đoạn này có thể là nguyên nhân của việc ý nghĩ chỉ nói. Đối diện với ấm ức, chủ thể có thể chạy trốn bằng việc tống ra các yếu tố beta, hoặc biến đổi nó, bằng các sinh ra các yếu tố alpha và các ý nghĩ. Khả năng suy nghĩ sẽ phụ thuộc vào khả năng đứa trẻ khoan dung với các ấm ức. Trong trường hợp mà đứa trẻ kháng cự với hẫng hụt, trải nghiệm của không-bầu-vú trở thành một ý nghĩ và do đó cũng tự phát triển một bộ máy tâm trí để suy nghĩ về các ý nghĩ.

Mô hình bao chứa – nội dung

Người mẹ không chỉ có thức ăn, mà còn có cả cái bao chứa cho mọi cảm xúc không hài long về nuôi dưỡng. Người mẹ vận hành như một cái bao chứa các cảm xúc về nuôi dưỡng và bằng sự trưởng thành tâm trí của mình, người mẹ khiến cho cái đói trở thành sự hài long, nỗi chịu đựng thành sự tự nguyện, sự đơn độc trở thành có đồng hành, nỗi sợ chết trở nên yên bình. Khả năng này của người mẹ có được do sự đón nhận các phóng chiếu của đứa trẻ mà Bion gọi là sự mơ mộng, và cũng có thể khả năng này thất bại.

Suy tư

Sự suy tư nhằm vào 2 tiến trình phân biệt: có một sự suy tư sinh ra các ý nghĩ và một sự suy tư khác nhằm vào việc sử dụng các ý nghĩa tiền-tồn tại. Để cho 2 chức năng này vận hành thì cần có một bộ máy suy nghĩ về các ý nghĩ.

Hai cơ chế tham gia trong việc hình thành bộ máy này:

  • Mối quan hệ năng động giữa điều gì đó được phóng chiếu, một cái nội dung ♂  và một đối tượng chứa lấy nó ♀.
  • Mối quan hệ năng động giữa các vị trí phân liệt – hoang tưởng và trầm uất (PS <=> D).

Như vậy, đối với BION, sự phát triển tâm trí phụ thuộc vào các yếu tố bẩm sinh (khả năng và không có khả năng chịu đựng các hẫng hụt) và các yếu tố của môi trường xung quanh (khả năng mơ mộng của người mẹ).

Ngô Thị Thu Huyền, tổng hợp từ nguồn: http://psy-enfant.fr/wilfred-bion-contenant-contenu-pensee/

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s